Thứ tư, 6/5/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Thứ tư, 6/5/2026
Share on Facebook
Copy to Clipboard

Chính quyền địa phương hai cấp và vai trò của Kiểm toán nhà nước trong quản lý tài chính công

Trong tiến trình cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang được triển khai ở Việt Nam như một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng quản trị nhà nước và quản lý tài chính công. Việc giảm bớt cấp trung gian trong tổ chức chính quyền địa phương làm gia tăng mức độ phân cấp, phân quyền về ngân sách, tài sản công và đầu tư công cho chính quyền cơ sở, đồng thời đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác kiểm tra, giám sát tài chính công. Trong bối cảnh đó, Kiểm toán nhà nước với vai trò là cơ quan kiểm tra tài chính công độc lập do Quốc hội thành lập giữ vị trí then chốt trong việc bảo đảm kỷ luật, kỷ cương tài chính, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương. Bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ vai trò của Kiểm toán nhà nước trong quản lý tài chính công tại địa phương, chỉ ra những thách thức đặt ra đối với hoạt động kiểm toán, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả vai trò của Kiểm toán nhà nước trong bối cảnh đổi mới tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: Chính quyền địa phương hai cấp; Kiểm toán nhà nước; quản lý tài chính công; trách nhiệm giải trình.

Two-tier local government and the role of the State Audit Office in public financial management

In the process of reforming the state apparatus toward a lean, effective and efficient model, the twotier local government model is being implemented in Vietnam as a key solution to enhance the quality of state governance and public financial management. Reducing intermediary levels in local government organizations increases the degree of decentralization and delegation of power regarding budgets, public assets and public investment to grassroots authorities. However, this also imposes higher requirements for the inspection and supervision of public finances. In this context, the State Audit Office of Vietnam (SAV) - as an independent public financial oversight body established by the National Assembly - plays a pivotal role in ensuring financial discipline, improving transparency and strengthening the accountability of local governments. This article focuses on analyzing the theoretical and practical foundations of the two-tier local government model, clarifying SAV’s role in local public financial management and identifying the challenges in audit activities. From there, it proposes solutions to enhance the effectiveness of SAV's role amidst the current organizational innovations of local government in Vietnam.

Keywords: Two-tier local government; State Audit Office of Vietnam; public financial management; accountability.

JEL classification: H83, H71, H72

https://doi.org/10.65771/ati-jas.02202601

Cải cách tổ chức chính quyền địa phương gắn với đổi mới quản lý tài chính công là một nội dung quan trọng trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực tiễn cho thấy, mô hình tổ chức chính quyền địa phương nhiều cấp, nhiều tầng nấc trung gian tuy có ưu điểm trong quản lý theo chiều sâu, nhưng cũng bộc lộ không ít hạn chế như bộ máy cồng kềnh, chi phí quản lý lớn, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ và làm giảm tính chủ động của chính quyền cơ sở. Vì vậy, mô hình chính quyền địa phương hai cấp được xem là một hướng đi phù hợp nhằm tinh giản bộ máy, tăng cường phân cấp, phân quyền, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng cung ứng dịch vụ công. Tuy nhiên, việc trao quyền nhiều hơn cho chính quyền địa phương, đặc biệt là trong lĩnh vực ngân sách nhà nước, quản lý tài sản công và đầu tư công, cũng làm gia tăng nguy cơ rủi ro tài chính nếu thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả.

Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/02/2025 của Bộ Chính trị đã mở đường cho cuộc tái cấu trúc sâu rộng chưa từng có: thí điểm và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, loại bỏ cấp trung gian (cấp huyện). Sự chuyển dịch này không đơn thuần là việc vẽ lại bản đồ hành chính, mà là một cuộc cách mạng về phân quyền tài khóa, phân quyền quản lý ngân sách. Khi các dòng vốn ngân sách và quyền quyết định đầu tư được trao trực tiếp cho cấp cơ sở, khoảng cách giữa người ra quyết định và người thụ hưởng được rút ngắn, hứa hẹn gia tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực. Tuy nhiên, theo lý thuyết Người đại diện (Principal-Agent Theory), sự gia tăng quyền lực nếu không đi kèm với cơ chế giám sát tương thích sẽ làm nảy sinh các rủi ro và nguy cơ trục lợi chính sách.

Trong bối cảnh đó, Kiểm toán nhà nước đứng trước thách thức kép: vừa phải thích ứng với quy mô đối tượng, đầu mối kiểm toán được gia tăng, vừa phải đổi mới phương pháp kiểm toán để đảm bảo chất lượng. Kiểm toán nhà nước, với chức năng kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm kỷ luật, kỷ cương tài chính và nâng cao trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương trong mô hình hai cấp. Việc nghiên cứu một cách hệ thống vai trò của Kiểm toán nhà nước trong quản lý tài chính công ở chính quyền địa phương hai cấp có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần hoàn thiện cơ chế giám sát tài chính công ở Việt Nam.

1. Cơ sở lý luận về chính quyền địa phương hai cấp

1.1. Khái niệm và đặc điểm của chính quyền địa phương hai cấp

Chính quyền địa phương hai cấp là mô hình tổ chức trong đó hệ thống chính quyền ở địa phương được thiết kế với hai cấp hành chính cơ bản, thường là cấp tỉnh (hoặc thành phố trực thuộc trung ương) và cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị hành chính tương đương). So với mô hình ba cấp truyền thống, mô hình hai cấp có những đặc điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, bộ máy hành chính được tinh giản, giảm bớt tầng nấc trung gian, qua đó giảm chi phí quản lý và nâng cao hiệu quả điều hành.

Thứ hai, mức độ phân cấp, phân quyền cho chính quyền cơ sở được mở rộng, đặc biệt trong quản lý ngân sách, đầu tư công và cung ứng dịch vụ công.

Thứ ba, vai trò tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương được đề cao, gắn với yêu cầu tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Thứ tư, cơ chế kiểm tra, giám sát tài chính công phải được thiết kế phù hợp để kiểm soát quyền lực trong điều kiện phân cấp mạnh mẽ.

1.2. Quản lý tài chính công trong chính quyền địa phương

Quản lý tài chính công là quá trình lập, phân bổ, sử dụng và kiểm soát các nguồn lực tài chính của Nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Ở cấp địa phương, quản lý tài chính công bao gồm quản lý ngân sách địa phương, tài sản công, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và hoạt động đầu tư công. Với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, quản lý tài chính công, tài sản công có một số đặc điểm nổi bật: Quyền quyết định và trách nhiệm của chính quyền cơ sở đối với ngân sách được tăng cường; Dòng chảy ngân sách và đầu tư công trở nên trực tiếp hơn, giảm bớt khâu trung gian; Yêu cầu về minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm giải trình trong sử dụng nguồn lực công trở nên cấp thiết hơn.

2. Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong quản lý tài chính công ở chính quyền địa phương hai cấp

2.1. Bảo đảm kỷ luật, kỷ cương tài chính

Một trong những vai trò cốt lõi của Kiểm toán nhà nước là kiểm tra việc tuân thủ pháp luật về tài chính - ngân sách tại các cấp chính quyền địa phương. Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước phát hiện và kiến nghị xử lý các vi phạm trong lập, chấp hành và quyết toán ngân sách địa phương, qua đó góp phần bảo đảm kỷ luật, kỷ cương tài chính trong điều kiện phân cấp, phân quyền ngày càng sâu rộng.

Đối với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, khi quyền hạn về tài chính tập trung nhiều hơn ở cấp cơ sở, vai trò này của Kiểm toán nhà nước càng trở nên quan trọng nhằm ngăn ngừa tình trạng buông lỏng quản lý hoặc lạm quyền trong sử dụng ngân sách nhà nước.

2.2. Nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương

Minh bạch và trách nhiệm giải trình là hai trụ cột quan trọng của quản trị tài chính công hiện đại. Các báo cáo kiểm toán của Kiểm toán nhà nước cung cấp thông tin khách quan, trung thực về tình hình quản lý và sử dụng tài chính công tại địa phương, tạo cơ sở để Hội đồng nhân dân, các cơ quan dân cử và người dân giám sát hoạt động của chính quyền.

Trong mô hình hai cấp, khi khoảng cách giữa chính quyền và người dân được rút ngắn, yêu cầu công khai, minh bạch thông tin tài chính càng trở nên cấp thiết; Kiểm toán nhà nước, thông qua việc công khai kết quả kiểm toán theo quy định của pháp luật, góp phần quan trọng vào việc nâng cao trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương.

Bên cạnh kiểm toán tuân thủ và kiểm toán tài chính, Kiểm toán nhà nước ngày càng chú trọng kiểm toán hoạt động nhằm đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực trong quản lý, sử dụng nguồn lực công. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp được trao quyền lớn hơn trong quyết định đầu tư và phân bổ ngân sách.

Thông qua kiểm toán hoạt động, Kiểm toán nhà nước không chỉ chỉ ra những tồn tại, hạn chế mà còn đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công, góp phần sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực của Nhà nước.

Các kiến nghị của Kiểm toán nhà nước không chỉ có giá trị xử lý các vấn đề cụ thể tại từng địa phương mà còn là cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý tài chính công. Trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, vai trò này của Kiểm toán nhà nước càng trở nên quan trọng nhằm bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật về ngân sách, đầu tư công và tài sản công.

2.3. Những vấn đề đặt ra đối với hoạt động kiểm toán địa phương

Mở rộng phạm vi và đối tượng kiểm toán: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp làm thay đổi cơ cấu quản lý tài chính công, kéo theo sự gia tăng về phạm vi và đối tượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước. Trong khi đó, nguồn lực kiểm toán (nhân lực, thời gian, kinh phí) còn có những hạn chế nhất định, đòi hỏi Kiểm toán nhà nước phải đổi mới phương pháp và cách thức tổ chức kiểm toán.

Chênh lệch về năng lực quản lý tài chính tại cơ sở: Trình độ quản lý tài chính, kế toán và năng lực điều hành ngân sách giữa các địa phương, đặc biệt là ở cấp cơ sở, còn chưa đồng đều. Điều này vừa làm gia tăng rủi ro tài chính, vừa đặt ra yêu cầu cao hơn đối với hoạt động kiểm toán trong việc hướng dẫn, kiến nghị hoàn thiện quản lý.

Yêu cầu đổi mới phương pháp và ứng dụng công nghệ: Quản lý tài chính công trong bối cảnh chuyển đổi số đòi hỏi Kiểm toán nhà nước phải tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, phân tích dữ liệu lớn và các công cụ kiểm toán hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng kiểm toán địa phương.

Thách thức trong việc kiểm toán xử lý tài sản công dôi dư hậu sáp nhập: Quá trình sáp nhập các đơn vị hành chính cấp huyện, xã để thực hiện mô hình hai cấp dẫn đến hệ quả tất yếu là sự dôi dư hàng loạt trụ sở làm việc, nhà đất và tài sản công. Thực tiễn từ việc sáp nhập tại các tỉnh cho thấy, nếu không có sự kiểm soát chặt chẽ, các tài sản này rất dễ rơi vào tình trạng “bỏ hoang”, xuống cấp hoặc bị sử dụng sai mục đích, gây lãng phí nguồn lực đặc biệt lớn. Vấn đề đặt ra cho Kiểm toán nhà nước là phải chuyển dịch trọng tâm từ kiểm toán tuân thủ sang kiểm toán hoạt động.

Yêu cầu về đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả của chính sách: Đối với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, quyền quyết định đầu tư và ngân sách được trao trực tiếp cho cấp cơ sở. Điều này đặt ra câu hỏi lớn về hiệu quả thực tế của dòng vốn: Liệu việc loại bỏ cấp trung gian có thực sự làm tăng hiệu quả đầu tư công hay chỉ chuyển rủi ro từ cấp huyện xuống cấp xã?

Về thời gian kiểm toán: Kiểm toán nhà nước đối mặt với “thách thức kép”: vừa phải kiểm toán với tiến độ nhanh để phục vụ phê chuẩn quyết toán1 , vừa phải thực hiện các cuộc kiểm toán hoạt động để đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của các chương trình mục tiêu quốc gia, các chuyên đề được Quốc hội giám sát tại địa bàn. Khó khăn nằm ở chỗ, hệ thống dữ liệu và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tại cấp xã thường sơ sài, thiếu đồng bộ, khiến việc định lượng hiệu quả chính sách trở nên phức tạp. Kiểm toán viên không chỉ dừng lại ở việc xác nhận số liệu thu - chi, mà phải trả lời được câu hỏi: Chính sách phân quyền có thực sự mang lại lợi ích cho người dân địa phương hay không?

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán

3.1. Về phía Kiểm toán nhà nước

Sửa đổi, điều chỉnh Quyết định số 682/QĐKTNN ngày 11/5/2022 của Kiểm toán nhà nước về Ban hành hướng dẫn kiểm toán Báo cáo quyết toán ngân sách địa phương nhằm phù hợp với việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy tại các địa phương theo Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/02/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Trong đó, làm rõ hướng dẫn việc chọn mẫu kiểm toán làm cơ sở kiểm tra, xác nhận tính trung thực, hợp lý của báo cáo quyết toán. Vì theo Hướng dẫn hiện nay, trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên “chọn mẫu một số báo cáo quyết toán ngân sách của đơn vị sử dụng ngân sách, một số báo cáo quyết toán vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước theo năm ngân sách của chủ đầu tư để so sánh, đối chiếu, đánh giá công tác quyết toán, thẩm định, xét duyệt” nhưng không hướng dẫn cụ thể nội dung, phạm vi so sánh, đối chiếu. Về bản chất, kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước vẫn phải tiếp cận từ khâu lập, giao dự toán chi, bố trí kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản và việc điều chỉnh dự toán, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công, chấp hành các quy định có liên quan đến thu ngân sách nhà nước và các quy định có liên quan đến tổ chức hiện dự toán chi và kế hoạch đầu tư công; chấp hành các quy định về khóa sổ, lập báo cáo quyết toán ngân sách địa phương; xử lý số dư dự toán thu, chi chuyển nguồn… Tuy nhiên, nội dung hướng dẫn hiện nay lại giới hạn: không đánh giá công tác quản lý và điều hành của các cấp chính quyền huyện, xã và các đơn vị dự toán; không kiểm toán chi tiết dự án; không kiểm toán công tác quản lý tài sản công của địa phương… nên cần có hướng dẫn cụ thể nhằm đảm bảo mục tiêu cuộc kiểm toán.

Nâng cao chất lượng các văn bản hướng dẫn kiểm toán: các vụ tham mưu cần nghiên cứu bổ sung, sửa đổi trình Lãnh đạo Kiểm toán nhà nước Hướng dẫn kiểm toán cụ thể về phạm vi, nội dung kiểm toán phù hợp với đặc thù của chính quyền địa phương hai cấp, như: cần quy định cụ thể về số lượng mẫu chọn khi kiểm toán tại các xã nhằm đảm bảo đủ mẫu đại diện cho kiểm toán ngân sách địa phương và xác nhận báo cáo quyết toán ngân sách địa phương; hướng dẫn về nội dung, phạm vi và phương pháp tổ chức của các Tổ kiểm toán, Đoàn kiểm toán khi thực hiện kiểm toán để đảm bảo thống nhất và phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 và Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15…

Đào tạo và ứng dụng công nghệ để khai thác dữ liệu kiểm toán: tổ chức tập huấn và hướng dẫn về Mục lục ngân sách nhà nước, việc khai thác sử dụng phần mềm TABMIS để phục vụ công tác kiểm toán được hiệu quả hơn; đồng thời, xây dựng hoặc mua sắm các phần mềm hỗ trợ kiểm toán và phân tích thông tin, dữ liệu ngân sách nhà nước để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động kiểm toán ngân sách nhà nước nói chung và kiểm toán ngân sách địa phương nói riêng.

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kiểm toán tài chính công phù hợp với mức độ phân cấp, phân quyền trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Tăng cường kiểm toán hoạt động, kiểm toán chuyên đề đối với các lĩnh vực rủi ro cao như đầu tư công, quản lý đất đai, tài sản công và các chương trình mục tiêu. Với mô hình chính quyền địa phương hai cấp thì quyền hạn và nguồn lực được phân cấp mạnh hơn, địa phương được trao quyền tự chủ lớn hơn trong quyết định đầu tư và sử dụng ngân sách. Vì vậy, khi phân cấp mạnh và đồng thời tăng cường kiểm soát quyền lực thì kiểm toán hoạt động, kiểm toán chuyên đề sẽ giúp cho việc đánh giá hiệu quả thực thi chính sách, phát hiện kẽ hở trong cơ chế phân cấp và ngăn ngừa lạm quyền hoặc buông lỏng quản lý. Do đó, tăng cường kiểm toán hoạt động và kiểm toán chuyên đề đối với các lĩnh vực rủi ro cao trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp là yêu cầu tất yếu của phân cấp, phân quyền, là công cụ kiểm soát quyền lực hiệu quả, biện pháp phòng ngừa tham nhũng, thất thoát và là giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị công và sử dụng ngân sách.

Chuyển đổi số toàn diện hoạt động kiểm toán địa phương. Để giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa quy mô đối tượng kiểm toán khổng lồ và hạn chế nguồn lực, Kiểm toán nhà nước cần thực hiện chiến lược “Kiểm toán dựa trên dữ liệu”: Một là, khai thác triệt để dữ liệu từ Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS) và tiến tới là Hệ thống Ngân sách và Kế toán số (VDBAS) theo lộ trình của Bộ Tài chính (Thông tư 132/2025/TTBTC). Kiểm toán nhà nước cần tiếp tục xây dựng các cổng kết nối dữ liệu để truy xuất trực tiếp dữ liệu thu - chi ngân sách địa phương (cấp cơ sở như cấp xã, cấp tỉnh) theo thời gian thực. Hai là, ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) và Phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để tự động hóa quy trình đánh giá rủi ro. Xây dựng các thuật toán nhận diện dấu hiệu bất thường như: các giao dịch chi tiêu lớn vào cuối năm, các gói thầu có tỷ lệ tiết kiệm thấp, sự trùng lặp hóa đơn... Hệ thống sẽ tự động phân loại các đơn vị cấp xã thành các nhóm rủi ro (cao - trung bình - thấp) để hỗ trợ lập kế hoạch kiểm toán, lựa chọn đầu mối kiểm toán có trọng tâm, trọng điểm.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán, chú trọng đào tạo kiểm toán viên về quản lý tài chính công địa phương và kiểm toán hoạt động. Ngoài ra, cần tạo các kỹ năng, thủ tục kiểm toán của các loại hình kiểm toán hoạt động và “kiểm toán trách nhiệm kinh tế” cho kiểm toán viên, thay vì chỉ tập trung vào kiểm toán tuân thủ.

3.2. Về phía các Kiểm toán nhà nước khu vực

Thứ nhất, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: sắp xếp, bố trí nhân sự Trưởng đoàn, Tổ trưởng và thành viên các đoàn cả năm, thực hiện luân chuyển địa bàn thực hiện kiểm toán giữa các kiểm toán viên; bố trí nhân sự là những kiểm toán viên có kinh nghiệm, bảo đảm đủ cơ cấu chuyên môn.

Thứ hai, trước khi triển khai các cuộc kiểm toán, Kiểm toán trưởng và Trưởng đoàn kiểm toán thực hiện quán triệt thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước, của Ngành. Đồng thời, tổ chức tập huấn, trao đổi cụ thể về kế hoạch và các nội dung trọng yếu, phương pháp và phạm vi kiểm toán; thống nhất hướng xử lý đối với một số vấn đề phát hiện chung, mang tính căn bản.

Thứ ba, tăng cường kiểm soát chất lượng kiểm toán để kịp thời khắc phục những tồn tại trong hoạt động kiểm toán; thực hiện kiểm soát hồ sơ kiểm toán của Đoàn kiểm toán xuyên suốt quá trình kiểm toán. Các đơn vị bố trí Phó Kiểm toán trưởng làm Tổ trưởng tổ kiểm soát chất lượng kiểm toán để tận dụng kinh nghiệm thực tiễn; nâng cao chất lượng công tác thẩm định báo cáo kiểm toán.

Thứ tư, chú trọng khảo sát, thu thập thông tin và lập kế hoạch kiểm toán tổng thể theo đúng các nội dung của đề cương kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương; chú trọng việc phân tích thông tin đã đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu kiểm toán; tuân thủ chuẩn mực kiểm toán và các quy định về hồ sơ mẫu biểu do Kiểm toán nhà nước ban hành; tuân thủ chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất; tăng cường tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm qua mỗi cuộc kiểm toán.

Thứ năm, chú trọng công tác đào tạo nội bộ, tăng cường trao đổi theo hướng cầm tay chỉ việc từ kết quả kiểm toán thực tế được tổng kết sau mỗi cuộc kiểm toán, từ tình huống cụ thể để rút ra bài học kinh nghiệm cho kiểm toán viên, Tổ kiểm toán và Đoàn kiểm toán; trong đào tạo cũng đặc biệt lưu ý tới kỹ năng thu thập bằng chứng, khai thác dữ liệu lớn và áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm toán tại các cơ quan tổng hợp để phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu nâng cao chất lượng kiểm toán hiện nay.

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp là một bước tiến quan trọng trong cải cách tổ chức bộ máy nhà nước và quản lý tài chính công ở Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Kiểm toán nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm kỷ luật, kỷ cương tài chính, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả sử dụng nguồn lực công tại địa phương. Việc tiếp tục đổi mới hoạt động kiểm toán, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực của Kiểm toán nhà nước là điều kiện then chốt để đáp ứng yêu cầu quản lý tài chính công trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, góp phần phát triển bền vững nền tài chính quốc gia.

Tài liệu tham khảo:

1. Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015;

2. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước năm 2019;

3. Nghị quyết số 999/2020/UBTVQH14 ngày 16/9/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc Ban hành Chiến lược phát triển Kiểm toán nhà nước đến năm 2030 (giai đoạn 2021-2030);

4. Quyết định số 682/QĐ-KTNN ngày 11/5/2022 của Kiểm toán nhà nước quy định về Ban hành hướng dẫn kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương;

5. Quyết định số 1495/QĐ-KTNN ngày 20/8/2024 của Kiểm toán nhà nước về quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn Kiểm toán nhà nước;

6. Quyết định số 03/2021/QĐ-KTNN ngày 17/11/2021 quy định về trình tự lập, thẩm định, xét duyệt và ban hành kế hoạch kiểm toán tổng quát của cuộc kiểm toán;

7. Quyết định số 01/2022/QĐ-KTNN ngày 18/3/2022 của Kiểm toán nhà nước quy định về trình tự lập, thẩm định, xét duyệt và phát hành báo cáo kiểm toán của Kiểm toán nhà nước;

8. Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;

9. Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15;

10. Mai Văn Tân, “Nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương”, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán - Kiểm toán nhà nước, số 209 - tháng 3/2025.

Tác giả:

TS Mai Văn Tân - Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh

(Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 2/2026)

Lượt xem: 12

Định vị kế toán như một lĩnh vực STEM và tác động đến chất lượng nguồn nhân lực kế toán trong kỷ nguyên chuyển đổi số

Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản nghề nghiệp kế toán từ vai trò ghi chép, tuân thủ sang vai trò phân tích, tư vấn và kiến tạo giá trị dựa trên dữ liệu và công nghệ. Trong bối cảnh đó, Hiệp hội Kế toán Công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã ủng hộ Accounting STEM Pursuit Act, một sáng kiến lập pháp nhằm công nhận kế toán như một lộ trình nghề nghiệp thuộc khối Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán học (STEM) và mở rộng khả năng sử dụng nguồn lực tài trợ giáo dục phổ thông để tăng tiếp cận sớm với giáo dục kế toán. Tại Việt Nam, yêu cầu chuyển đổi số và hiện đại hóa lĩnh vực kế toán - kiểm toán đã được định hướng trong Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030; đồng thời lộ trình áp dụng IFRS/VFRS tạo thêm áp lực nâng cấp năng lực nghề nghiệp. Bài viết này sử dụng cách tiếp cận phân tích nội dung và phân tích tài liệu để (i) làm rõ logic chính sách và lập luận nghề nghiệp đằng sau việc định vị kế toán như STEM, (ii) đối sánh với bối cảnh thể chế Việt Nam và (iii) đề xuất hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kế toán trong nền kinh tế số. Kết quả phân tích cho thấy định vị STEM có thể được hiểu như một cơ chế điều phối kỳ vọng xã hội, phân bổ nguồn lực và thiết kế chương trình đào tạo theo hướng dữ liệu - công nghệ; tuy nhiên, giá trị của nó phụ thuộc vào mức độ chuyển hóa thành thay đổi thực chất về chuẩn đầu ra, học liệu, phương pháp đánh giá năng lực và hợp tác trường - nghề nghiệp - doanh nghiệp. Bài viết gợi ý chương trình nghiên cứu tiếp theo, trong đó các giả thuyết và thiết kế định lượng chỉ được xem là hướng mở rộng sau khi đã làm rõ khung khái niệm và các điều kiện thực thi trong bối cảnh Việt Nam. Từ khóa: Kế toán số; STEM; giáo dục kế toán; chuyển đổi số; chất lượng nguồn nhân lực. Positioning accounting as a STEM field and its impact on accounting human resources in the digital transformation Era Digital transformation is fundamentally shifting the accounting profession from recording and compliance to data-driven analysis, advisory and value creation. In this context, the American Institute of Certified Public Accountants (AICPA) has supported a legislative initiative to recognize accounting as a career path within the Science, Technology, Engineering and Mathematics (STEM) fields and to expand the use of public education funding to increase early access to accounting education. In Vietnam, the need for digital transformation and modernization of the accounting and auditing sector has been outlined into the National Digital Transformation Program to 2025, with a vision to 2030 and the Accounting and Auditing Strategy to 2030. At the same time, the IFRS/VFRS adoption roadmap creates additional pressure to upgrade professional skills. This paper employs document analysis to: (i) clarify the policy logic of STEM positioning, (ii) compare it with the Vietnamese institutional context and (iii) propose policy implications for enhancing accounting human resources. The analysis results reveal that STEM positioning serves as a mechanism to coordinate social expectations and resource allocation and designing data - and technology - oriented training programs; however, its value depends on the extent to which it translates into substantive changes in learning outcomes, learning materials, competency assessment methods and collaboration between schools, professions, and businesses. The article suggests further research, in which quantitative hypotheses and designs should only be considered as extensions after clarifying the conceptual framework and implementation conditions in the Vietnamese context. Keywords: Digital accounting; STEM; accounting education; digital transformation; human resource quality JEL classification: M41, O33, I25, J24 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202601 1. Đặt vấn đề Chuyển đổi số đang tái cấu trúc cách thức tạo lập, lưu chuyển và kiểm soát thông tin tài chính trong cả doanh nghiệp và khu vực công. Khi dữ liệu giao dịch được số hóa, chứng từ điện tử trở thành chuẩn vận hành, các quy trình kế toán - thuế được liên thông trên nền tảng số và các hệ thống quản trị như ERP (Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp - Enterprise Resource Planning), ngân hàng điện tử hay nền tảng phân tích dữ liệu ngày càng phổ biến, giá trị gia tăng của nghề kế toán dịch chuyển mạnh từ thao tác nhập liệu sang thiết kế kiểm soát, bảo đảm chất lượng dữ liệu, phân tích và truyền đạt thông tin phục vụ quyết định quản trị. Xu hướng này khiến năng lực công nghệ, năng lực dữ liệu và tư duy phản biện trở thành yêu cầu nền tảng của người làm kế toán, đồng thời đặt lại câu hỏi về cách thức đào tạo và định vị nghề nghiệp trong xã hội. Ở Việt Nam, định hướng chuyển đổi số đã được xác lập ở tầm quốc gia trong Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Trong lĩnh vực kế toán - kiểm toán, Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030 đặt mục tiêu hiện đại hóa khung khổ pháp lý và tổ chức thực thi theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Cùng với đó, việc triển khai hóa đơn, chứng từ điện tử theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2022 tạo ra một bước ngoặt vận hành, khiến năng lực tác nghiệp trên môi trường số trở thành yêu cầu phổ biến của nhiều doanh nghiệp (Chính phủ, 2020). Song song với chuyển đổi số, Việt Nam thúc đẩy hội nhập chuẩn mực báo cáo tài chính thông qua Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam theo Quyết định 345/QĐ-BTC ngày 16/3/2020, nhấn mạnh lộ trình áp dụng IFRS và xây dựng VFRS, cũng như vai trò của các cơ sở đào tạo và hội nghề nghiệp trong nghiên cứu, đào tạo và hỗ trợ triển khai (Bộ Tài chính, 2020). Kết hợp lại, các dòng áp lực thể chế này làm nổi bật một yêu cầu trung tâm rằng chất lượng nguồn nhân lực kế toán phải được nhìn nhận như khả năng sẵn sàng đáp ứng đồng thời yêu cầu chuẩn mực, tuân thủ và yêu cầu công nghệ, dữ liệu trong môi trường số. Trong khi đó, ở một số quốc gia phát triển, nghề kế toán đang được tái định vị như một nghề nghiệp công nghệ hóa. Tại Hoa Kỳ, AICPA ủng hộ dự luật Accounting STEM Pursuit Act (S.3784) nhằm công nhận kế toán như một lộ trình nghề nghiệp thuộc khối Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán học (STEM) và mở rộng khả năng sử dụng nguồn lực tài trợ giáo dục phổ thông để tăng tiếp cận sớm với giáo dục kế toán (AICPA, 2026; Strickland, 2026). AICPA cũng công bố kết quả khảo sát do The Harris Poll thực hiện cho thấy tỷ lệ ủng hộ cao đối với việc coi các khóa học kế toán là STEM, qua đó gợi ý rằng nhãn STEM có thể tác động đến lựa chọn ngành học và mở rộng nguồn cung nhân lực cho nghề kế toán (AICPA, 2025; Strickland, 2025). Truyền thông chuyên ngành quốc tế ghi nhận đây là một bước đi mang tính thể chế nhằm gắn kế toán với các kỹ năng dữ liệu và công nghệ trong hệ sinh thái giáo dục (The Accountant, 2026). Từ các diễn biến này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam không chỉ là có nên gắn kế toán với STEM hay không, mà quan trọng hơn là gắn như thế nào để tạo ra chuyển biến thực chất về chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, chọn cách tiếp cận phân tích nội dung và phân tích tài liệu, bài viết này tập trung vào việc đọc, phân tích chính sách, cấu trúc ngôn ngữ nghề nghiệp và các điều kiện thực thi; qua đó đề xuất hàm ý cho quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo và tổ chức nghề nghiệp. Các đề xuất về kiểm định định lượng, giả thuyết và mô hình thống kê chỉ được trình bày như hướng nghiên cứu mở rộng ở phần kết luận. 2. Phương pháp nghiên cứu Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu và phân tích nội dung theo hướng định tính, dựa trên các văn bản chính sách và tài liệu nghề nghiệp ở hai cấp độ. Ở cấp độ quốc tế, nguồn tư liệu trọng tâm gồm thông cáo và bài viết của AICPA về Accounting STEM Pursuit Act, các bài phân tích của Journal of Accountancy và tin chuyên ngành của The Accountant về việc AICPA ủng hộ dự luật (AICPA, 2025, 2026; Strickland, 2025, 2026; The Accountant, 2026). Ở cấp độ Việt Nam, tư liệu gồm Chương trình Chuyển đổi số quốc gia (Thủ tướng Chính phủ, 2020), Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2022), Đề án áp dụng IFRS/VFRS (Bộ Tài chính, 2020) và quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử (Chính phủ, 2020). Ngoài ra, bài viết tham chiếu các cập nhật về Chuẩn mực Giáo dục Quốc tế liên quan năng lực công nghệ thông tin - truyền thông và hoài nghi nghề nghiệp như một chuẩn quy chiếu về năng lực (IAESB, 2019). Quy trình phân tích nội dung được triển khai theo hướng mã hóa chủ đề. Trước hết, bài viết xác định các nội dung chính trong lập luận của AICPA về bản chất công nghệ hóa của nghề kế toán và mục tiêu chính sách của dự luật. Tiếp đó, bài viết đối sánh các tuyên bố này với bối cảnh thể chế Việt Nam nhằm nhận diện sự tương thích, các khoảng trống và điều kiện cần để chuyển hóa từ “nhãn nghề nghiệp” sang “năng lực thực hành”. Cuối cùng, bài viết tổng hợp thành các chủ đề hàm ý chính sách theo ba tầng: tầng nhà nước (khung pháp lý, cơ chế khuyến khích), tầng cơ sở đào tạo (chuẩn đầu ra, thiết kế chương trình, đánh giá) và tầng nghề nghiệp - doanh nghiệp (chuẩn năng lực, chứng chỉ, hệ sinh thái thực hành). 3. Kết quả nghiên cứu Phân tích nội dung cho thấy, trong lập luận của AICPA, “STEM” không được sử dụng như một phân loại học thuật thuần túy, mà như một công cụ thể chế để tái định nghĩa nghề nghiệp và mở rộng cơ chế nguồn lực cho giáo dục kế toán. Nói cách khác, “định vị STEM” vừa mang tính mô tả (mô tả nghề kế toán hiện đại dựa trên dữ liệu và công nghệ) vừa mang tính thiết kế chính sách (tạo căn cứ để huy động, phân bổ hoặc hợp thức hóa các nguồn lực phát triển kỹ năng cho người học từ sớm) (AICPA, 2026; Strickland, 2026). 3.1. STEM như ngôn ngữ tái định nghĩa nghề kế toán trong kỷ nguyên dữ liệu Chủ đề thứ nhất là STEM được vận dụng như một ngôn ngữ tái định nghĩa nghề kế toán theo hướng “dữ liệu - công nghệ - tư duy phân tích”. Các bài viết liên quan dự luật nhấn mạnh rằng kế toán ngày nay vận hành trên nền tảng hệ thống số và đòi hỏi năng lực phân tích, xử lý dữ liệu, cùng tư duy phản biện trong ra quyết định (AICPA, 2026; Strickland, 2026). Khi STEM được hiểu theo nghĩa rộng như vậy, nó giúp chuyển trọng tâm truyền thông nghề nghiệp từ hình ảnh ghi chép sang hình ảnh kiến tạo giá trị, qua đó điều chỉnh kỳ vọng xã hội về nghề kế toán. So sánh với Việt Nam cho thấy, nhu cầu tái định nghĩa này có cơ sở thực tiễn mạnh. Việc vận hành hóa đơn, chứng từ điện tử theo Nghị định 123/2020/ NĐ-CP khiến nhiều nghiệp vụ kế toán chuyển sang môi trường số, kéo theo yêu cầu hiểu quy trình hệ thống, kiểm soát dữ liệu đầu vào và đối chiếu dữ liệu liên thông (Chính phủ, 2020). Đồng thời, lộ trình IFRS/VFRS làm tăng yêu cầu về xét đoán và chất lượng thông tin tài chính, vốn không thể tách rời năng lực xử lý dữ liệu và hiểu hệ thống tạo lập dữ liệu (Bộ Tài chính, 2020). Vì vậy, việc định vị kế toán theo hướng dữ liệu - công nghệ có thể coi là phù hợp với biến đổi của môi trường nghề nghiệp trong nước, thay vì chỉ là nhập khẩu một nhãn từ nước ngoài. 3.2. STEM như cơ chế nguồn lực và tiếp cận sớm trong hệ sinh thái giáo dục Chủ đề thứ hai là STEM được sử dụng như một cơ chế tiếp cận nguồn lực và tăng tiếp cận sớm với giáo dục kế toán. Dự luật mà AICPA ủng hộ hướng đến việc cho phép các nguồn tài trợ giáo dục phổ thông được sử dụng cho chương trình kế toán, qua đó tạo điều kiện để người học tiếp xúc sớm hơn với tư duy dữ liệu và các kỹ năng nền tảng liên quan (AICPA, 2026; Strickland, 2026). Điểm này cho thấy trọng tâm của lập luận không chỉ nằm ở xếp loại ngành mà nằm ở thiết kế cơ chế giúp tái cấu trúc chuỗi đào tạo nhân lực từ bậc phổ thông đến đại học. Trong bối cảnh Việt Nam, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu phát triển kỹ năng số rộng khắp và thúc đẩy chuyển đổi số trong nhiều lĩnh vực (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Từ góc nhìn phân tích chính sách, điều này mở ra khả năng lồng ghép nội dung kỹ năng dữ liệu tài chính cơ bản trong các hoạt động hướng nghiệp, giáo dục tài chính, hoặc các mô-đun kỹ năng số ở phổ thông. Dù Việt Nam không có cơ chế tài trợ giáo dục K-12 giống Hoa Kỳ, logic tiếp cận sớm vẫn có thể triển khai bằng các mô hình hợp tác giữa nhà trường, doanh nghiệp và tổ chức nghề nghiệp, ví dụ thiết kế học liệu mở, cuộc thi dữ liệu tài chính, hoặc chương trình trải nghiệm nghề kế toán số cho học sinh. 3.3. STEM như tín hiệu thị trường và cuộc cạnh tranh thu hút nhân lực Chủ đề thứ ba là STEM hoạt động như một tín hiệu thị trường, tác động đến lựa chọn ngành học và khả năng thu hút nhân lực. AICPA sử dụng kết quả khảo sát công chúng để củng cố lập luận rằng việc gắn kế toán với STEM có thể làm tăng khuynh hướng lựa chọn học kế toán, từ đó góp phần mở rộng nguồn cung nhân lực cho ngành (AICPA, 2025; Strickland, 2025). Dù dữ liệu khảo sát thuộc bối cảnh Hoa Kỳ, thông điệp chính sách có thể khái quát: trong môi trường cạnh tranh nhân lực với các ngành công nghệ, nghề kế toán cần một ngôn ngữ mới để mô tả giá trị nghề nghiệp và lộ trình phát triển. Ở Việt Nam, cạnh tranh nhân lực giữa các nhóm ngành kinh tế và nhóm ngành công nghệ đang gia tăng, trong khi nhu cầu kế toán - kiểm toán lại đòi hỏi ngày càng nhiều kỹ năng số. Vì vậy, định vị STEM có thể đóng vai trò như một chiến lược truyền thông nghề nghiệp, song chỉ hiệu quả nếu gắn với các cam kết thực chất về chuẩn đầu ra và cơ hội nghề nghiệp. Nếu STEM chỉ dừng ở khẩu hiệu, rủi ro kỳ vọng sai sẽ xuất hiện: người học kỳ vọng một nghề nghiệp công nghệ cao nhưng lại gặp chương trình đào tạo nặng ghi nhớ chế độ, ít thực hành dữ liệu và hệ thống. Điều này có thể làm giảm niềm tin vào thương hiệu chương trình và làm suy yếu tín hiệu mà STEM dự định tạo ra. 3.4. Điều kiện chuyển hóa Chủ đề thứ tư là điều kiện chuyển hóa. Phân tích đối sánh cho thấy định vị STEM chỉ có ý nghĩa đối với chất lượng nguồn nhân lực nếu được hiện thực hóa bằng bốn điều kiện then chốt: chuẩn năng lực, thiết kế chương trình, phương pháp đánh giá và hệ sinh thái thực hành. Ở cấp chuẩn năng lực, các sửa đổi Chuẩn mực Giáo dục Quốc tế nhấn mạnh năng lực công nghệ thông tin - truyền thông và hoài nghi nghề nghiệp như kết quả học tập quan trọng trong đào tạo kế toán (IAESB, 2019). Điều này gợi ý một chuẩn tham chiếu phù hợp để Việt Nam xây dựng hoặc cập nhật khung năng lực kế toán số, giúp tránh tình trạng STEM hóa bằng cách thêm các môn học rời rạc. Ở cấp thiết kế chương trình, Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030 đã nhấn mạnh chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Nếu chuyển hóa vào giáo dục, điều này đòi hỏi chương trình đào tạo không chỉ dạy phần mềm, mà dạy nguyên lý hệ thống thông tin kế toán, quản trị dữ liệu, thiết kế kiểm soát, phân tích dữ liệu phục vụ quyết định và chuẩn mực đạo đức trong môi trường số. Ở cấp phương pháp đánh giá, thay vì kiểm tra ghi nhớ, đánh giá cần hướng tới năng lực giải quyết vấn đề trên dữ liệu và tình huống số hóa, bao gồm mô phỏng quy trình hóa đơn - chứng từ điện tử và đối chiếu dữ liệu liên thông (Chính phủ, 2020). Ở cấp hệ sinh thái thực hành, vai trò của doanh nghiệp và tổ chức nghề nghiệp trở nên quyết định, bởi dữ liệu, tình huống và công cụ thực tế là nguyên liệu để đào tạo theo hướng STEM. 4. Thảo luận và hàm ý chính sách cho Việt Nam Từ các chủ đề trên, có thể xem định vị kế toán như STEM là một đòn bẩy thể chế nhằm đưa kỹ năng dữ liệu - công nghệ trở thành trung tâm của chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời tái cấu trúc cách xã hội nhìn nhận nghề kế toán. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam, cần phân biệt rõ giữa định vị và cải cách. Định vị là bước tạo khung nhận thức và huy động nguồn lực, còn cải cách là bước thay đổi thực chất chương trình, chuẩn năng lực và cơ chế liên kết. 4.1. Hàm ý cho quản lý nhà nước Trước hết, quản lý nhà nước có thể xem xét thiết kế chương trình hành động về phát triển nhân lực kế toán số như một cấu phần của thực thi Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030, thay vì coi đào tạo là hoạt động tách rời. Từ góc nhìn chính sách công, chương trình hành động này cần xác định rõ chuẩn năng lực kế toán số ở các bậc đào tạo, đồng thời đề xuất cơ chế khuyến khích các trường cập nhật học liệu, hạ tầng dữ liệu và phòng thực hành hệ thống. Việc tham chiếu các chuẩn quốc tế về năng lực công nghệ thông tin - truyền thông và hoài nghi nghề nghiệp là cần thiết để bảo đảm tính tương thích và tính cập nhật. Thứ hai, cần kết nối định vị STEM với hai ưu tiên thể chế đang triển khai, cụ thể là: số hóa chứng từ và hội nhập chuẩn mực. Hóa đơn, chứng từ điện tử theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP đã làm thay đổi cấu trúc quy trình kế toán ở cấp tổ chức, còn lộ trình IFRS/VFRS làm gia tăng yêu cầu xét đoán và chất lượng thông tin tài chính. Vì vậy, chính sách nhân lực kế toán số nên được thiết kế như mắt xích hỗ trợ hai ưu tiên này, ví dụ bằng các tiêu chí kiểm định chất lượng chương trình gắn với năng lực hệ thống và năng lực xét đoán. 4.2. Hàm ý cho cơ sở đào tạo Đối với cơ sở đào tạo, trọng tâm không phải là thêm nhiều học phần công nghệ, mà là tổ chức lại trải nghiệm học tập theo hướng dữ liệu và hệ thống. Điều này có nghĩa các học phần kế toán tài chính, kế toán quản trị, kiểm toán, thuế và kiểm soát nội bộ cần tích hợp dữ liệu và tình huống số hóa vào bài tập, dự án và đánh giá. Việc dạy nguyên lý để vận dụng, thay vì dạy ghi nhớ, trở nên đặc biệt quan trọng khi công cụ và phần mềm thay đổi nhanh. Một cách tiếp cận phù hợp là phát triển các môđun phòng thực hành dữ liệu trong đó người học làm việc với bộ dữ liệu giao dịch lớn (được làm mờ, hoặc ẩn danh), thực hiện làm sạch dữ liệu, đối chiếu dữ liệu, phát hiện bất thường và trình bày ý nghĩa kế toán của kết quả phân tích. Các bài tập mô phỏng quy trình hóa đơn, chứng từ điện tử cũng giúp người học hiểu logic hệ thống và kiểm soát, qua đó tăng năng lực tuân thủ và giảm rủi ro vận hành. Ở cấp chương trình, sự liên kết với lộ trình IFRS/VFRS đòi hỏi tăng cường nội dung xét đoán nghề nghiệp, đồng thời gắn với cách dữ liệu được tạo lập và kiểm soát trong hệ thống số. 4.3. Hàm ý cho tổ chức nghề nghiệp và doanh nghiệp Tổ chức nghề nghiệp và doanh nghiệp giữ vai trò “bảo trợ năng lực” trong giai đoạn chuyển đổi số. Về mặt chuẩn hóa, tổ chức nghề nghiệp có thể phát triển bộ học liệu và chứng chỉ theo hướng kế toán số, phân tích dữ liệu và kiểm soát hệ thống, đồng thời cập nhật yêu cầu đạo đức và hoài nghi nghề nghiệp trong môi trường số theo chuẩn quốc tế. Về mặt truyền thông, kinh nghiệm AICPA cho thấy việc tái định vị nghề nghiệp cần đi kèm lập luận nghề nghiệp và bằng chứng xã hội để tạo đồng thuận. Ở Việt Nam, truyền thông nghề nghiệp theo hướng kế toán là năng lực dữ liệu có thể hỗ trợ thu hút người học, nhưng phải được bảo chứng bằng năng lực thực hành và cơ hội nghề nghiệp cụ thể. Đối với doanh nghiệp, định vị STEM gợi ý rằng kế toán không chỉ là chức năng tuân thủ, mà là một mắt xích của quản trị dữ liệu và quản trị rủi ro. Khi doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống và chuẩn hóa dữ liệu, vai trò của kế toán chuyển mạnh sang thiết kế kiểm soát, phân tích và tư vấn. Do đó, doanh nghiệp nên thiết kế lộ trình phát triển nhân sự kế toán theo hướng kết hợp nghiệp vụ và công nghệ, đồng thời hợp tác với cơ sở đào tạo để cung cấp tình huống, dữ liệu và nền tảng thực hành. Sự hợp tác này cũng giúp giảm chênh lệch giữa đào tạo và yêu cầu công việc thực tế. Kết luận Bài viết đã phân tích nội dung các tài liệu nghề nghiệp và chính sách để làm rõ logic của việc định vị kế toán như một lĩnh vực Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán học (STEM) và so sánh với bối cảnh Việt Nam. Kết quả cho thấy, trong lập luận của quốc tế, định vị STEM vừa là một ngôn ngữ tái định nghĩa nghề kế toán trong kỷ nguyên dữ liệu, vừa là một cơ chế thể chế nhằm mở rộng tiếp cận và nguồn lực cho giáo dục kế toán. Trong bối cảnh Việt Nam, nơi chuyển đổi số quốc gia và chiến lược ngành đã đặt yêu cầu hiện đại hóa kế toán - kiểm toán, lộ trình IFRS/VFRS gia tăng yêu cầu xét đoán và minh bạch, và hóa đơn - chứng từ điện tử tạo chuẩn vận hành số, định vị STEM có thể là một đòn bẩy hữu ích nếu được chuyển hóa thành cải cách thực chất về chuẩn năng lực, chương trình, đánh giá và hệ sinh thái thực hành. Hạn chế của bài viết là mới dừng ở phân tích tài liệu và lập luận, chưa có dữ liệu thực nghiệm để đánh giá mức độ tác động của định vị STEM đến lựa chọn ngành học, chất lượng đầu ra hay năng suất lao động. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng theo hướng kiểm định thực nghiệm sau khi khung khái niệm và điều kiện thực thi đã được làm rõ. Về mặt định lượng, có thể phát triển mô hình kiểm định trong đó định vị STEM (nhận thức của người học và cơ sở đào tạo) tác động đến chất lượng nguồn nhân lực thông qua các cơ chế trung gian như mức độ tích hợp công nghệ trong chương trình, năng lực số và mức độ hấp dẫn nghề nghiệp; đồng thời xem xét vai trò điều tiết của hỗ trợ thể chế và hợp tác doanh nghiệp - nhà trường. Các giả thuyết cơ bản có thể được rút gọn thành: (i) định vị STEM thúc đẩy tích hợp công nghệ trong chương trình; (ii) tích hợp công nghệ nâng năng lực số; (iii) năng lực số nâng chất lượng nguồn nhân lực; và (iv) định vị STEM gia tăng hấp dẫn nghề nghiệp, từ đó cải thiện động cơ học tập và ý định theo nghề. Việc kiểm định các giả thuyết này bằng dữ liệu đa nguồn (người học - nhà tuyển dụng - tổ chức nghề nghiệp) sẽ giúp lượng hóa hiệu quả của các can thiệp chính sách và tối ưu thiết kế chương trình đào tạo trong kỷ nguyên số. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. AICPA. (2025). AICPA survey indicates strong support for accounting to be designated as a STEM program. AICPA & CIMA; 2. AICPA. (2026). AICPA applauds introduction of Accounting STEM Pursuit Act in Senate. AICPA & CIMA; 3. Bộ Tài chính. (2020). Quyết định số 345/QĐ-BTC phê duyệt Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam; 4. Chính phủ. (2020). Nghị định số 123/2020/NĐ-CP quy định về hóa đơn, chứng từ; 5. IAESB. (2019). Revisions to IES 2, 3, 4 and 8. International Federation of Accountants; 6. Nguyễn, L. (2021). Chuyển đổi số và nâng cao chất lượng đào tạo kế toán, kiểm toán; 7. Strickland, B. (2025). STEM designation for accounting has strong support. Journal of Accountancy; 8. Strickland, B. (2026). AICPA supports Accounting STEM Pursuit Act legislation. Journal of Accountancy; 9. The Accountant. (2026). AICPA backs US bill to classify accounting as STEM discipline. The Accountant; 10. Thủ tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; 11. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 633/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030. Ngày nhận bài: 26/02/2026 Ngày biên tập: 03/3/2026 Ngày duyệt đăng: 10/4/2026 Tác giả: Trần Khánh Lâm Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) Nguyễn Phong Nguyên Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Email: trankhanhlam@vacpa.org.vn (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)

Phân tích thực trạng và giải pháp kiểm soát nguồn thu thuế tối thiểu toàn cầu tại Việt Nam đối với Kiểm toán nhà nước

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, việc Việt Nam chính thức nội luật hóa Thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) thông qua Nghị quyết số 107/2023/QH15 áp dụng từ năm tài chính 2024 là một bước ngoặt quan trọng trong chính sách tài khóa. Với ước tính khoảng 122 tập đoàn đa quốc gia chịu ảnh hưởng và khả năng gia tăng nguồn thu ngân sách khoảng 14.600 tỷ đồng/năm, đây là nguồn lực tài chính trọng yếu cần được kiểm soát chặt chẽ. Thực tiễn triển khai cho thấy Kiểm toán nhà nước đang đối mặt với những thách thức chưa từng có tiền lệ, đặc biệt là sự thiếu hụt dữ liệu xuyên biên giới, khoảng trống về năng lực kiểm toán theo chuẩn mực quốc tế (IFRS/GloBE Rules) và rào cản trong cơ chế phối hợp quốc tế. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, hai điểm nghẽn lớn nhất là sự tụt hậu về công cụ kiểm toán số và hạn chế trong phương pháp tiếp cận rủi ro đối với các giao dịch liên kết phức tạp. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các Cơ quan Kiểm toán Tối cao (SAI) trên thế giới, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp chiến lược về hoàn thiện khung pháp lý, đào tạo chuyên sâu nguồn nhân lực và đẩy mạnh chuyển đổi số, nhằm nâng cao hiệu quả kiểm toán và hiện thực hóa Chiến lược phát triển Kiểm toán nhà nước đến năm 2030. Từ khóa: Thuế tối thiểu toàn cầu, Thuế Thu nhập doanh nghiệp bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn (QDMTT), Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán số, Chiến lược 2030, Quy tắc GloBE. Analysis of the current situation and solutions for controlling global minimum tax revenues in Vietnam for the State Audit Office In the context of extensive international economic integration, Vietnam's official internalization of the Global Minimum Tax (GMT) - via Resolution No. 107/2023/QH15 effective from the 2024 fiscal year - marks a significant turning point in fiscal policy. With an estimated 122 multinational enterprises (MNEs) affected and a potential budget revenue increase of approximately 14,600 billion VND per year, this represents a vital financial resource that requires stringent oversight. Practical implementation indicates that the State Audit Office of Vietnam (SAV) is facing unprecedented challenges, particularly regarding the shortage of cross-border data, gaps in audit capacity according to international standards (IFRS/GloBE Rules), and barriers in international coordination mechanisms. Research findings highlight two primary bottlenecks: the lag in digital auditing tools and limitations in risk-based approaches toward complex related-party transactions. Based on the experiences of Supreme Audit Institutions (SAIs) worldwide, the author proposes a system of strategic solutions. These include refining the legal framework, providing specialized human resource training and accelerating digital transformation to enhance audit effectiveness and realize SAV’s Development Strategy to 2030. Keywords: Global Minimum Tax, Qualified Domestic Minimum Top-up Tax (QDMTT), State Audit Office of Vietnam, Digital Audit, Strategy to 2030, GloBE Rules. JEL classification: H25, H61, H83 https://doi.org/10.65771/ati-jas.01202601 1. Đặt vấn đề 1.1. Bối cảnh toàn cầu và sự dịch chuyển của dòng thuế quốc tế Trong hai thập kỷ qua, sự bùng nổ của nền kinh tế số và quá trình toàn cầu hóa sâu rộng đã tạo ra những thách thức chưa từng có đối với hệ thống thuế quốc tế truyền thống. Các quy tắc thuế hiện hành, vốn được thiết kế cho nền kinh tế “gạch và vữa”, đã bộc lộ nhiều kẽ hở nghiêm trọng. Các Tập đoàn đa quốc gia (MNEs) lớn đã tận dụng sự khác biệt về chính sách thuế giữa các quốc gia và sự thiếu liên kết trong các quy tắc thuế quốc tế để thực hiện các hành vi xói mòn cơ sở tính thuế và chuyển lợi nhuận (BEPS). Theo ước tính của Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), các hành vi BEPS gây thất thu thuế toàn cầu khoảng 100-240 tỷ USD mỗi năm. Trước thực trạng đó, diễn đàn hợp tác chung (Inclusive Framework on BEPS) của OECD/G20, với sự tham gia của hơn 140 quốc gia (trong đó có Việt Nam), đã thống nhất Giải pháp Hai Trụ cột nhằm giải quyết các thách thức về thuế phát sinh từ nền kinh tế kỹ thuật số. Trong đó, Trụ cột 2 (Pillar Two) thiết lập mức Thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) là 15%. Đây được xem là một cuộc cách mạng trong lịch sử thuế quốc tế, chấm dứt cuộc đua xuống đáy (race to the bottom) về thuế suất ưu đãi để thu hút đầu tư nước ngoài. 1.2. Phản ứng chính sách của Việt Nam, sự ra đời của Nghị quyết 107/2023/QH15 Là một quốc gia có nền kinh tế mở và phụ thuộc lớn vào dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam chịu tác động trực tiếp và sâu sắc từ GMT. Nếu Việt Nam không hành động, quyền đánh thuế đối với phần thu nhập chịu thuế thấp của các MNEs đang hoạt động tại Việt Nam sẽ thuộc về các quốc gia nơi công ty mẹ đóng trụ sở chính (thông qua cơ chế IIR - Income Inclusion Rule). Điều này không chỉ gây thất thu ngân sách mà còn làm mất đi chủ quyền thuế quốc gia. Nhận thức rõ tính cấp thiết đó, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã chính thức thông qua Nghị quyết số 107/2023/QH15 ngày 29/11/2023 về việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2024, đánh dấu một bước ngoặt trong chính sách tài khóa của Việt Nam. Nghị quyết 107/2023/QH15 tập trung vào hai cơ chế chính: - Quy định về Thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn (QDMTT): Đây là cơ chế ưu tiên hàng đầu. Theo đó, Việt Nam sẽ giành quyền thu phần thuế bổ sung đối với các MNEs có doanh thu hợp nhất toàn cầu từ 750 triệu EUR trở lên đang hoạt động tại Việt Nam nếu thuế suất thực tế (ETR) của họ thấp hơn 15%. - Quy định về Tổng hợp thu nhập chịu thuế tối thiểu (IIR): Áp dụng đối với các tập đoàn của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, cho phép Việt Nam thu thuế bổ sung nếu các đơn vị thành viên ở nước ngoài chịu mức thuế thấp hơn 15%. 1.3. Thách thức đặt ra cho Kiểm toán nhà nước Việc kiểm soát GMT diễn ra trong bối cảnh Kiểm toán nhà nước hiện đang tập trung thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển đến năm 2030, theo định hướng tại Nghị quyết số 999/2020/ UBTVQH14, đồng thời phải ứng phó với những thách thức lớn từ bối cảnh kinh tế số và Chính phủ số. Sự ra đời của Nghị quyết 107/2023/QH15 không chỉ là vấn đề của cơ quan Thuế hay Bộ Tài chính, mà còn đặt ra những yêu cầu mới, phức tạp đối với Kiểm toán nhà nước. Với vai trò là cơ quan kiểm tra tài chính công cao nhất do Quốc hội thành lập, Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm xác nhận tính trung thực, hợp lý của các khoản thu ngân sách, trong đó có khoản thu 14.600 tỷ đồng từ GMT. Tuy nhiên, kiểm toán nguồn thu GMT khác biệt hoàn toàn so với kiểm toán thuế truyền thống: - Yêu cầu chuyển đổi chiến lược: Định hướng chiến lược của Kiểm toán nhà nước Việt Nam tập trung vào 3 trụ cột chính được đề cập trong các Nghị quyết của Đảng ủy Kiểm toán nhà nước, nhằm xây dựng Kiểm toán nhà nước chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu quả; cụ thể: Nâng cao chất lượng kiểm toán (Nghị quyết 168-NQ/ĐU) để đảm bảo tính độc lập, khách quan, giá trị; Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số (Nghị quyết 169-NQ/ĐU) để tự động hóa, nâng cao hiệu suất; và Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (Nghị quyết 170-NQ/ĐU) với đội ngũ cán bộ, kiểm toán viên chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu mới. Như vậy, để hoàn thành sứ mệnh kiểm soát khoản thu GMT, Kiểm toán nhà nước phải ưu tiên thực hiện các mục tiêu chiến lược cốt lõi: Nâng cao chất lượng kiểm toán, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. - Về đối tượng: Là các tập đoàn đa quốc gia có cấu trúc tài chính phức tạp và các giao dịch xuyên biên giới tinh vi. - Về cơ sở pháp lý: Phải tuân thủ đồng thời pháp luật Việt Nam (Nghị quyết 107) và các Quy tắc GloBE của OECD (Pháp luật quốc tế). - Về chuẩn mực kế toán: Việc xác định Lợi nhuận GloBE và Thuế suất thực tế (ETR) dựa trên Báo cáo tài chính hợp nhất theo chuẩn mực quốc tế (IFRS/US GAAP), trong khi Kiểm toán viên nhà nước chủ yếu được đào tạo và làm việc theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS). - Về công cụ kiểm toán trên nền tảng số: Kiểm toán nhà nước cần phát triển các công cụ phân tích dữ liệu chuyên sâu, trí tuệ nhân tạo (AI) để tự động hóa quy trình kiểm toán, nhằm phát hiện gian lận và các hành vi chuyển giá tinh vi, đặc biệt là đối với các sắc thuế quốc tế phức tạp như GMT. Theo Phạm Thị Thu Hà (2024) cho rằng thách thức lớn nhất đối với kiểm toán thu ngân sách trong nền kinh tế số là khả năng xác định cơ sở tính thuế đối với các hoạt động xuyên biên giới và xử lý khối lượng dữ liệu khổng lồ. Thách thức của kiểm toán thu ngân sách trong nền kinh tế số là việc xác định cơ sở tính thuế đối với các hoạt động xuyên biên giới. Do đó, khi đối mặt với GMT, Kiểm toán nhà nước cần thiết lập cơ chế phối hợp hiệu quả với các Cơ quan kiểm toán tối cao (SAI) nước ngoài để xác minh tính chính xác của Tờ khai thông tin GloBE (GIR). Sự thiếu hụt về cơ sở dữ liệu kết nối thời gian thực, sự chênh lệch về năng lực chuyên môn quốc tế và sự chưa hoàn thiện của quy trình kiểm toán đặc thù đang tạo ra những “lỗ hổng” rủi ro kiểm toán. Nếu không có giải pháp chiến lược kịp thời, Kiểm toán nhà nước sẽ gặp khó khăn trong việc phát hiện các sai sót trọng yếu, dẫn đến nguy cơ thất thoát nguồn thu và giảm hiệu lực giám sát. 2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2.1. Cơ sở lý luận về kiểm toán thuế tối thiểu toàn cầu GMT được Việt Nam chính thức thực thi từ ngày 01/01/2024, áp dụng cho năm tài chính 2024, theo Nghị quyết 107/2023/QH15. Cơ chế này nhằm đảm bảo các tập đoàn đa quốc gia nộp thuế tối thiểu 15% trên toàn cầu, hạn chế tình trạng chuyển lợi nhuận sang các quốc gia có mức thuế suất thấp. Chính phủ Việt Nam đang khẩn trương triển khai các quy định chi tiết để áp dụng nghị quyết này. Lợi nhuận chịu thuế bổ sung không phải là lợi nhuận kế toán thông thường mà là lợi nhuận GloBE. Lợi nhuận GloBE là thu nhập kế toán sau điều chỉnh theo Trụ cột Hai (Pillar Two) của OECD để xác định thuế suất hiệu lực, đảm bảo các tập đoàn đa quốc gia (MNE) nộp thuế tối thiểu 15%. Để kiểm soát hiệu quả nguồn thu GMT, cần hiểu rõ cơ chế vận hành kỹ thuật của nó. Trọng tâm của việc xác định nghĩa vụ thuế bổ sung nằm ở công thức tính Thuế suất thực tế (ETR - Effective Tax Rate): ETR = Tổng số thuế được bao gồm (Adjusted Covered Taxes) / Lợi nhuận GloBE (GloBE Income). Nhiệm vụ của Kiểm toán nhà nước là xác minh tính chính xác của tử số và mẫu số trong công thức này. - Lợi nhuận GloBE: Không phải là lợi nhuận kế toán thông thường hay thu nhập chịu thuế theo Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp hiện hành. Nó được xác định bằng cách lấy Lợi nhuận/Lỗ tài chính ròng trên Báo cáo tài chính hợp nhất (theo chuẩn mực kế toán được chấp nhận của công ty mẹ tối cao) và thực hiện các điều chỉnh theo Quy tắc GloBE. - Tổng số thuế được bao gồm: Bao gồm thuế hiện hành và thuế hoãn lại, nhưng phải loại trừ các khoản thuế không được tính theo quy định của OECD. Rủi ro kiểm toán trọng yếu nằm ở việc chuyển đổi dữ liệu. Doanh nghiệp tại Việt Nam hạch toán theo VAS, nhưng để tính GMT phải chuyển đổi sang IFRS/US GAAP. Sự khác biệt giữa hai hệ thống chuẩn mực này (ví dụ: ghi nhận doanh thu, chi phí khấu hao, tổn thất tài sản) là “vùng xám” dễ phát sinh sai sót hoặc hành vi gian lận kỹ thuật nhằm điều chỉnh ETR đạt mức 15% một cách nhân tạo để tránh nộp thêm thuế. 2.2. Cơ sở pháp lý và phạm vi kiểm toán của Kiểm toán nhà nước Để tránh sự nhầm lẫn về vai trò giữa Kiểm toán nhà nước và Thanh tra Thuế, cần xác định rõ đối tượng và phạm vi kiểm toán dựa trên Luật Kiểm toán nhà nước và cụ thể hóa tại Quyết định số 1536/ QĐ-KTNN ngày 12/12/2023 của Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành Hướng dẫn kiểm toán công tác quản lý thu ngân sách nhà nước. Theo đó: Đối tượng kiểm toán trực tiếp là Cơ quan quản lý thuế (Cục Thuế, các Thuế tỉnh/thành phố), không phải là người nộp thuế (doanh nghiệp). Kiểm toán nhà nước thực hiện đánh giá tính trung thực, hợp lý của báo cáo quyết toán thu ngân sách và tính hiệu lực trong công tác quản lý, điều hành của cơ quan thuế. Kiểm toán nhà nước không thực hiện thanh tra nghĩa vụ thuế thay cho cơ quan thuế. Mục đích của việc “kiểm tra đối chiếu” theo quy định tại Quyết định 1536/QĐ-KTNN, nhằm thu thập bằng chứng để đánh giá việc tuân thủ pháp luật, tính hiệu quả trong công tác quản lý thuế (như: việc đôn đốc kê khai, thẩm định Tờ khai thông tin GloBE, xử lý vi phạm...) của cơ quan thuế đối với người nộp thuế. Từ cơ sở pháp lý này, phạm vi kiểm toán GMT của Kiểm toán nhà nước tập trung vào hai trụ cột: - Kiểm toán tuân thủ: Đánh giá việc cơ quan Thuế đã thiết lập và thực hiện đúng các quy trình quản lý thuế đặc thù theo Nghị quyết 107/2023/ QH15 hay chưa (bao gồm quy trình tiếp nhận dữ liệu, đối chiếu thông tin quốc tế). - Kiểm toán hoạt động: Đánh giá tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát rủi ro ngành thuế, từ đó kiến nghị bịt các lỗ hổng về chính sách và quản lý để chống thất thu thuế. - Phương pháp tiếp cận kiểm toán dựa trên rủi ro: Theo Chuẩn mực Kiểm toán nhà nước 1315, kiểm toán viên phải xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu. Đối với GMT, mô hình rủi ro thay đổi căn bản. Chuyển từ rủi ro “giấu doanh thu” (truyền thống) sang rủi ro “tối ưu hóa ETR” thông qua các thủ thuật kế toán quốc tế. Tập trung vào các khoản mục đặc thù như: Khoản giảm trừ dựa trên thực thể hoạt động và các giao dịch nội bộ tập đoàn xuyên biên giới. Như vậy, Kiểm toán nhà nước đóng vai trò là cơ quan giám sát vĩ mô, sử dụng kết quả đối chiếu chọn mẫu tại các MNEs trọng yếu để đánh giá “sức khỏe” và hiệu quả của cả hệ thống quản lý thuế. Từ đó khẳng định Kiểm toán nhà nước kiểm toán “công tác quản lý” chứ không chỉ kiểm toán “con số”, phù hợp với xu hướng kiểm toán hoạt động hiện đại. 3. Phân tích thực trạng và các xu hướng rủi ro trọng yếu 3.1. Phân tích dữ liệu về quy mô và mức độ tập trung rủi ro Theo số liệu rà soát của Tổng cục Thuế báo cáo Chính phủ khi trình Quốc hội ban hành Nghị quyết 107/2023/QH15, quy mô tác động của GMT tại Việt Nam được lượng hóa cụ thể: - Về đối tượng: Có khoảng 122 Tập đoàn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam chịu ảnh hưởng của Quy tắc Thuế bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn (QDMTT). Đây là các MNEs có quy mô doanh thu hợp nhất toàn cầu trên 750 triệu EUR. - Về quy mô tài chính: Tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung dự kiến thu được khoảng 14.600 tỷ đồng/năm. Từ góc độ kiểm toán, con số 14.600 tỷ đồng là một biến số có tính trọng yếu cao (Materiality) trong tổng thể thu ngân sách. Tuy nhiên, dữ liệu này cho thấy đặc điểm rủi ro có tính tập trung: Số thu lớn nhưng chỉ phát sinh từ một nhóm nhỏ đối tượng (122 MNEs). Điều này đặt ra yêu cầu Kiểm toán nhà nước phải chuyển dịch từ phương pháp kiểm toán dàn trải sang kiểm toán trọng điểm, tập trung nguồn lực chất lượng cao nhất vào danh sách 122 doanh nghiệp này thay vì kiểm toán diện rộng.   3.2. Thực trạng khó khăn trong áp dụng phương pháp tiếp cận rủi ro Thực tiễn hoạt động của các Đoàn kiểm toán nhà nước hiện nay đang bộc lộ những hạn chế khi đối mặt với sắc thuế mới này: - Thứ nhất, nhầm lẫn về đối tượng và phương pháp: Mặc dù, Tổng Kiểm toán nhà nước đã ban hành hướng dẫn về phương pháp tiếp cận rủi ro, nhưng thực tế các kiểm toán viên thường áp dụng tư duy kiểm toán báo cáo tài chính sang kiểm toán thu ngân sách. Cụ thể, khi kiểm toán báo cáo quyết toán thu ngân sách nhà nước, kiểm toán viên cần đối chiếu số thực nộp vào Kho bạc Nhà nước. Tuy nhiên, nhiều đoàn kiểm toán lại tập trung kiểm tra hồ sơ kê khai thuế tại cơ quan Thuế để xác định lại số phải nộp. Đối với GMT, sai sót trong số phải nộp là rủi ro tiềm tàng rất lớn, nhưng nếu kiểm toán viên chỉ chăm chăm vào chứng từ nộp tiền mà không đánh giá lại bản tính ETR thì sẽ bỏ lọt sai sót trọng yếu. - Thứ hai, hạn chế về kỹ năng đánh giá rủi ro chuyên sâu: Việc xác định trọng yếu và rủi ro kiểm toán đối với GMT đòi hỏi kiểm toán viên phải có kiến thức sâu về chuyển giá và kế toán quốc tế. Thực tế tại các Kiểm toán nhà nước chuyên ngành và khu vực, số lượng kiểm toán viên có khả năng phân tích độc lập các rủi ro tiềm tàng từ cấu trúc thuế của MNEs chưa nhiều. Việc xác định rủi ro vẫn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm cá nhân đối với các sắc thuế nội địa, thiếu các mô hình phân tích định lượng để phát hiện các biến động bất thường của ETR. - Thứ ba, rào cản về kết nối dữ liệu để phân tích rủi ro hệ thống: Đây là điểm nghẽn lớn nhất. Việc phân tích rủi ro đòi hỏi dữ liệu lịch sử và dữ liệu so sánh, tuy nhiên Kiểm toán nhà nước gặp khó khăn trong việc kết nối dữ liệu thời gian thực với hệ thống của cơ quan Thuế để chạy các mô hình phân tích rủi ro hệ thống. Điều này cản trở việc xác định chính xác các MNEs có ETR thấp bất thường để đưa vào kế hoạch kiểm toán chi tiết. 3.3. Phân tích xu hướng rào cản qua dữ liệu thứ cấp Việc tổng hợp các nghiên cứu tiền nhiệm và đối chiếu với yêu cầu của Nghị quyết 107 cho thấy hai xu hướng “lệch pha” (Gap) ngày càng lớn giữa yêu cầu quản lý và năng lực thực tế. Xu hướng 1: Sự tụt hậu về công nghệ xử lý dữ liệu và kết nối xuyên biên giới (The Data Gap). Trong nền kinh tế số, dữ liệu là nguyên liệu đầu vào quan trọng nhất của hoạt động kiểm toán. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra một mẫu số chung đáng lo ngại: - Tình trạng "Đảo dữ liệu" (Data Silos): Hiện tại, dữ liệu tài chính của doanh nghiệp nằm tại hệ thống kế toán nội bộ (ERP); dữ liệu kê khai thuế nằm tại hệ thống TMS của Tổng cục Thuế; trong khi dữ liệu quan trọng nhất để tính GMT là Tờ khai thông tin GloBE (GIR) lại nằm ở công ty mẹ tại nước ngoài. Kiểm toán nhà nước hiện chưa có cơ chế kết nối thời gian thực (Real-time) với cơ quan Thuế để tiếp cận dòng dữ liệu này. - Thiếu hụt công cụ kiểm toán số: Việc tính toán Thuế suất thực tế (ETR) đòi hỏi phải xử lý hàng nghìn bút toán điều chỉnh từ báo cáo tài chính hợp nhất. Hiện nay, Kiểm toán viên nhà nước vẫn chủ yếu sử dụng các công cụ bán tự động (như Excel) để phân tích. - Hệ quả rủi ro: Nếu không có công cụ tự động hóa và quyền truy cập dữ liệu liên thông, kiểm toán viên không thể tái lập (re-calculate) quy trình tính toán ETR của doanh nghiệp. Điều này dẫn đến nguy cơ bỏ sót các sai lệch trong việc xác định “Thuế được bao gồm” và “Lợi nhuận GloBE”, đặc biệt là các hành vi chuyển giá tinh vi thông qua các giao dịch vô hình xuyên biên giới. Đây chính là thách thức mà Nghị quyết 169-NQ/ĐU của Ban Cán sự Đảng Kiểm toán nhà nước đã nhận diện và yêu cầu khắc phục. Xu hướng 2: Khoảng trống về năng lực chuẩn mực quốc tế (The Skills Gap). Nếu dữ liệu là nguyên liệu, thì năng lực kiểm toán viên là công cụ chế biến. Dữ liệu từ thực tiễn hoạt động kiểm toán và phân tích của Vũ Sỹ Cường & Lưu Huyền Trang (2023) cho thấy một khoảng trống lớn về kỹ năng chuyên sâu: - Xung đột chuẩn mực kế toán (VAS vs. IFRS): Đây là rào cản kỹ thuật lớn nhất. Kiểm toán viên nhà nước hiện nay rất thành thạo trong việc phát hiện sai phạm dựa trên Luật Ngân sách nhà nước và Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS). Tuy nhiên, GMT yêu cầu xác định lợi nhuận dựa trên chuẩn mực kế toán của công ty mẹ (thường là IFRS hoặc US GAAP). Ví dụ: Các quy định về ghi nhận doanh thu, chi phí khấu hao, hay đánh giá lại tài sản giữa VAS và IFRS có sự khác biệt lớn. Nếu kiểm toán viên dùng tư duy VAS để kiểm tra bản tính ETR lập theo IFRS, kết luận kiểm toán sẽ không chính xác. - Sự thiếu hụt chuyên gia định lượng thuế quốc tế: Việc kiểm toán các khoản Giảm trừ dựa trên thực thể hoạt động (Substance-based Income Exclusion) đòi hỏi kiểm toán viên phải có kỹ năng định giá tài sản và phân bổ chi phí nhân sự theo tiêu chuẩn quốc tế. Hiện tại, số lượng Kiểm toán viên nhà nước sở hữu các chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế (như ACCA, CPA Úc, CFA) hoặc được đào tạo chuyên sâu về Quy tắc GloBE còn rất mỏng so với quy mô 122 tập đoàn đa quốc gia cần kiểm soát. - Hệ quả rủi ro: Khoảng trống năng lực này tạo ra nguy cơ kiểm toán viên chỉ kiểm tra được tính tuân thủ về mặt hình thức (hồ sơ, thủ tục) mà bỏ qua tính chính xác về mặt nội dung (bản chất dòng tiền và lợi nhuận), dẫn đến rủi ro không phát hiện được sai sót trọng yếu. 4. Kinh nghiệm quốc tế của các cơ quan kiểm toán tối cao (SAI)   Dữ liệu từ Bảng 2 cho thấy áp lực hội nhập là không thể đảo ngược, khi các đối tác đầu tư lớn nhất của Việt Nam như Hàn Quốc, Nhật Bản và EU đều đã kích hoạt cơ chế IIR. Thực tế này khẳng định việc Quốc hội ban hành Nghị quyết 107/2023/ QH15 là bước đi cấp thiết và đúng thời điểm để bảo vệ chủ quyền thuế quốc gia “đi trước một bước”. Nếu Việt Nam chậm trễ thực thi hoặc không kiểm soát tốt nguồn thu này, quyền đánh thuế sẽ mặc nhiên chuyển về các quốc gia nơi công ty mẹ đóng trụ sở, gây thiệt hại kép cho lợi ích quốc gia. Để giải quyết các thách thức trên, việc tham khảo kinh nghiệm của các Cơ quan Kiểm toán Tối cao (SAI) trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia có dòng vốn FDI lớn, là vô cùng cần thiết. - Kinh nghiệm của SAI Hàn Quốc (BAI - Board of Audit and Inspection): Hàn Quốc là một trong những quốc gia tiên phong luật hóa GMT. SAI Hàn Quốc đã tiếp cận theo hướng kiểm toán tính sẵn sàng của hệ thống (System Readiness Audit). Thay vì đợi đến khi doanh nghiệp nộp thuế rồi mới kiểm tra, BAI tập trung đánh giá năng lực của Cơ quan Thuế quốc gia (NTS) ngay từ giai đoạn chuẩn bị. Họ kiểm toán hệ thống công nghệ thông tin của NTS xem có khả năng tiếp nhận và xử lý dữ liệu Tờ khai GloBE theo định dạng chuẩn XML hay không. BAI sử dụng các thuật toán phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để quét rủi ro tự động, so sánh ETR kê khai với dữ liệu lịch sử và dữ liệu ngành để phát hiện bất thường. - Kinh nghiệm của SAI Vương quốc Anh (NAO - National Audit Office): Vương quốc Anh (UK) có cách tiếp cận chú trọng vào vai trò tham vấn và giám sát sớm. NAO tham gia đánh giá độc lập đối với các hướng dẫn áp dụng GMT của Cơ quan Thuế (HMRC) ngay từ dự thảo, đảm bảo các quy định này không chỉ tuân thủ OECD mà còn phải “có thể kiểm toán được” (auditable). Về dữ liệu, NAO nhấn mạnh việc sử dụng Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (CbCR) làm cơ sở dữ liệu tham chiếu chéo (cross-reference) để xác minh tính hợp lý của Tờ khai GloBE. Điều này giúp phát hiện các sai lệch giữa lợi nhuận báo cáo tại Anh và lợi nhuận hợp nhất toàn cầu. - Kinh nghiệm của SAI Úc (ANAO - Australian National Audit Office): Cơ quan Kiểm toán Quốc gia Úc (ANAO) tiếp cận kiểm toán chống trốn thuế quốc tế thông qua hình thức “Kiểm toán hoạt động” (Performance Audit) đối với hiệu quả quản lý của Cơ quan Thuế Úc (ATO). Điểm nổi bật là ANAO không đi sâu kiểm tra lại từng hồ sơ thuế cụ thể mà tập trung đánh giá tính hiệu quả của “Lực lượng đặc nhiệm chống tránh thuế” (Tax Avoidance Taskforce) thuộc ATO. Cụ thể, ANAO đánh giá xem ATO có sử dụng hiệu quả các nguồn dữ liệu từ bên thứ ba và dữ liệu Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (CbCR) để nhận diện rủi ro hay không. Bài học là việc ATO phải xây dựng được “Khung quản trị rủi ro định lượng”, cho phép tự động phân loại mức độ rủi ro của các tập đoàn đa quốc gia dựa trên lịch sử tuân thủ và cấu trúc thuế. Đây là gợi ý quan trọng để Kiểm toán nhà nước Việt Nam kiến nghị Cục Thuế xây dựng bộ tiêu chí rủi ro đặc thù cho GMT. - Kinh nghiệm của SAI Nhật Bản (Board of Audit of Japan): Với đặc thù là quốc gia có nhiều tập đoàn đầu tư ra nước ngoài (như Toyota, Honda...), SAI Nhật Bản tập trung kiểm toán việc thực thi các hiệp định trao đổi thông tin thuế quốc tế. Điểm nổi bật của SAI Nhật Bản là chú trọng kiểm tra năng lực của Cơ quan Thuế Quốc gia (NTA) trong việc khai thác “Dữ liệu trao đổi thông tin tự động” (AEOI). Họ kiểm toán xem NTA có thực sự sử dụng các dữ liệu nhận được từ nước ngoài để đối chiếu với tờ khai thuế trong nước hay không, hay chỉ lưu trữ thụ động. Bài học đối với cơ chế IIR (nơi Việt Nam thu thuế bổ sung từ các tập đoàn đầu tư ra nước ngoài), Kiểm toán nhà nước cần học hỏi Nhật Bản ở khâu kiểm soát luồng dữ liệu hai chiều: đảm bảo dữ liệu gửi đi (cho nước sở tại) và dữ liệu nhận về (từ nước đầu tư) phải được đối khớp hoàn toàn trên hệ thống công nghệ thông tin trước khi tính thuế. Từ thực tiễn của các SAI, Kiểm toán nhà nước Việt Nam cần rút ra các bài học: Chuyển từ kiểm toán hậu kiểm (ex-post) sang giám sát, đồng hành ngay từ giai đoạn triển khai. Ưu tiên kiểm toán hệ thống công nghệ thông tin và quy trình quản lý của cơ quan thuế trước khi kiểm toán chi tiết hồ sơ doanh nghiệp. Coi trọng việc chuẩn hóa và kết nối dữ liệu quốc tế (CbCR, GIR) làm nền tảng cho đánh giá rủi ro. Những bài học kinh nghiệm về “kiểm toán tính sẵn sàng của hệ thống” (Hàn Quốc), “tham vấn sớm” (Anh), “Đánh giá hiệu quả mô hình quản lý rủi ro” (Úc) và “Kiểm soát trao đổi thông tin quốc tế” (Nhật Bản) sẽ là cơ sở thực tiễn để đề xuất các giải pháp đối với Kiểm toán nhà nước Việt Nam. 5. Giải pháp và kiến nghị định hướng chiến lược 5.1. Giải pháp về hoàn thiện phương pháp và cơ sở pháp lý (Bám sát Chuẩn mực Kiểm toán nhà nước 1315) Ban hành Hướng dẫn kiểm toán đặc thù cho GMT: Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán cần nghiên cứu, ban hành Hướng dẫn áp dụng Chuẩn mực Kiểm toán nhà nước 1315 dành riêng cho lĩnh vực thuế quốc tế. Hướng dẫn cần quy định rõ: - Ngưỡng trọng yếu (Materiality): Thiết lập mức trọng yếu thấp hơn đối với các sai sót trong tính toán ETR do tính chất nhạy cảm của nguồn thu. - Thủ tục kiểm toán: Quy định các bước kiểm tra đối với các khoản điều chỉnh từ VAS sang GloBE và thủ tục xác minh các khoản giảm trừ trách nhiệm. - Làm rõ quy trình kiểm toán tại đơn vị quản lý thu: Chuẩn hóa quy trình kiểm toán đối với cơ quan thuế trong việc quản lý GMT, tách bạch rõ trách nhiệm của cơ quan thuế (quản lý, thanh tra) và trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước (đánh giá, xác nhận), tránh chồng chéo nhưng không bỏ sót. 5.2. Giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (bám sát trọng tâm Nghị quyết 170- NQ/ĐU) Xu hướng “khoảng trống năng lực” (Skills Gap) đòi hỏi Kiểm toán nhà nước phải có chiến lược đào tạo và bố trí nhân sự vượt trội so với giai đoạn trước. - Thứ nhất, thành lập Đoàn kiểm toán (Tổ kiểm toán) chuyên đề GMT: Thay vì phân tán lực lượng, Kiểm toán nhà nước cần thành lập các Tổ kiểm toán chuyên trách tại các đơn vị có nhiều đối tượng GMT (như Kiểm toán nhà nước khu vực XII, khu vực IV, khu vực VII và chuyên ngành II). Thành viên của Tổ là những kiểm toán viên ưu tú, được trang bị kiến thức sâu về IFRS và ngoại ngữ. Mô hình này giúp tập trung trí tuệ tập thể để xử lý các tình huống phức tạp của 122 Tập đoàn đa quốc gia, tránh dàn trải nguồn lực. - Thứ hai, chuẩn hóa chương trình đào tạo “Chuyển đổi hệ chuẩn mực”: Cần xây dựng module đào tạo bắt buộc chuyển từ tư duy kiểm toán tuân thủ VAS sang tư duy phân tích theo IFRS/US GAAP. Nội dung đào tạo cần tập trung vào kỹ thuật: + Chuyển đổi báo cáo tài chính (Reconciliation) từ VAS sang GloBE. + Xác định và kiểm tra các khoản giảm trừ dựa trên thực thể hoạt động (Substance-based Income Exclusion) - khu vực rủi ro cao nhất của việc “xào nấu” dữ liệu. + Khuyến khích và hỗ trợ kiểm toán viên thi lấy các chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế (ACCA, CPA Úc, CFA) để tiệm cận trình độ với nhân sự của các Big 4 và các MNEs. 5.3. Giải pháp về chuyển đổi số và kết nối dữ liệu (Bám sát trọng tâm của Nghị quyết 169-NQ/ ĐU) Để khắc phục xu hướng “tụt hậu công nghệ”, Kiểm toán nhà nước phải coi công nghệ là công cụ sinh tồn trong kiểm toán GMT. - Thứ nhất, xây dựng “Cơ chế chia sẻ dữ liệu định danh” với cơ quan Thuế: Kiểm toán nhà nước cần kiến nghị Quốc hội và Chính phủ pháp điển hóa cơ chế chia sẻ dữ liệu điện tử. Cụ thể, hệ thống công nghệ thông tin của Kiểm toán nhà nước cần được kết nối (theo phân cấp) với cơ sở dữ liệu của Cục Thuế để khai thác trực tiếp Tờ khai thông tin GloBE (GIR) và Tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp. Việc này giúp kiểm toán viên có dữ liệu Real-time (thời gian thực) để phân tích rủi ro từ xa trước khi xuống đơn vị, giảm thời gian kiểm toán trực tiếp. - Thứ hai, phát triển Công cụ hỗ trợ kiểm toán (Digital Audit Tool): Cần đầu tư phát triển hoặc mua bản quyền phần mềm chuyên dụng hỗ trợ tính toán ETR. Công cụ này hoạt động như một “máy quét” rủi ro: tự động đối chiếu số liệu giữa báo cáo tài chính hợp nhất và Tờ khai thuế, tự động tính lại ETR và cảnh báo các biến động bất thường (Flagging risks). Đây là bước đi cụ thể hóa mục tiêu chuyển từ kiểm toán truyền thống sang kiểm toán trên môi trường số theo Nghị quyết 169-NQ/ĐU. 5.4. Giải pháp về tăng cường hợp tác quốc tế Do tính chất xuyên biên giới của dữ liệu GMT, Kiểm toán nhà nước cần: Thiết lập cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin với các Cơ quan Kiểm toán Tối cao (SAI) nước ngoài (nơi có trụ sở chính của các MNEs). Mục tiêu là để xác minh tính chính xác, trung thực của Tờ khai thông tin GloBE (GIR) mà công ty mẹ đã nộp tại nước sở tại. Việc hợp tác này giúp Kiểm toán nhà nước Việt Nam có được dữ liệu gốc để đối chiếu với số liệu mà công ty con tại Việt Nam kê khai, giải quyết bài toán thiếu hụt thông tin đầu vào. Kết luận Việc Việt Nam nội luật hóa Thuế tối thiểu toàn cầu thông qua Nghị quyết 107/2023/QH15 là bước đi tất yếu để bảo vệ quyền đánh thuế quốc gia. Với quy mô nguồn thu bổ sung lên tới 14.600 tỷ đồng/ năm, đây là “mảnh đất” quan trọng nhưng đầy thách thức đối với Kiểm toán nhà nước. Kết quả phân tích cho thấy, để hoàn thành sứ mệnh này, Kiểm toán nhà nước không thể duy trì tư duy kiểm toán truyền thống. Hai rào cản lớn nhất cần vượt qua là sự thiếu hụt dữ liệu kết nối xuyên biên giới và khoảng trống năng lực chuẩn mực quốc tế. Việc xác định rõ phạm vi kiểm toán (tập trung vào cơ quan quản lý thu), học hỏi kinh nghiệm từ các SAI tiên tiến và thực hiện quyết liệt các giải pháp về nhân lực, công nghệ sẽ giúp Kiểm toán nhà nước không chỉ chống thất thu ngân sách mà còn nâng cao vị thế “Chuyên nghiệp - Chất lượng - Hội nhập” trong kỷ nguyên số. Tài liệu tham khảo 1. Quốc hội (2023), Nghị quyết số 107/2023/QH15 về việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu; 2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2020), Nghị quyết số 999/2020/UBTVQH14 ban hành Chiến lược phát triển Kiểm toán nhà nước đến năm 2030; 3. Ban Cán sự Đảng Kiểm toán nhà nước (2025), Nghị quyết số 168-NQ/ĐU, 169-NQ/ĐU, 170-NQ/ ĐU về các chuyên đề toàn khóa; 4. Kiểm toán nhà nước (2023), Quyết định số 1536/QĐ-KTNN, “Quy định việc kiểm tra, đối chiếu với các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước”; 5. Bộ Tài chính (2023), Tờ trình số 530/TTr-CP của Chính phủ về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung; 6. Phạm Thị Thu Hà (2024), “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Kiểm toán nhà nước”, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, Số 198, 35 - 40; 7. Vũ Sỹ Cường, Lưu Huyền Trang (2023), “Ảnh hưởng của thuế tối thiểu toàn cầu tới Việt Nam qua phân tích thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp hiệu dụng”, Tạp chí Tài chính; 8. OECD/G20 Inclusive Framework on BEPS (2023), Tax Challenges Arising from the Digitalisation of the Economy - GloBE Information Return. Tác giả: ThS Nguyễn Bá Hùng - Kiểm toán nhà nước khu vực XII (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 1/2026)

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục: Thực trạng và tác động đối với nhóm kỹ năng 4C của sinh viên Việt Nam

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần trở thành công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc tái định hình phương thức dạy và học tại các cơ sở giáo dục đại học. Bài viết này hướng đến việc phân tích thực trạng sử dụng AI và đánh giá mức độ ảnh hưởng của công nghệ này đối với nhóm kỹ năng 4C (Critical Thinking - tư duy phản biện, Creativity - tư duy sáng tạo, Communication - kỹ năng giao tiếp, Collaboration - khả năng hợp tác) của sinh viên Việt Nam thông qua việc tổng hợp các bằng chứng thực nghiệm. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, dù AI hỗ trợ tối ưu hóa hiệu suất đầu ra, song việc lạm dụng quá mức tiềm ẩn rủi ro làm suy giảm các kỹ năng 4C của sinh viên. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ việc kiện toàn hành lang pháp lý, xác lập tiêu chuẩn kỹ thuật đến cải tiến hạ tầng công nghệ và đổi mới phương pháp sư phạm số. Những phát hiện này đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựng chiến lược ứng dụng AI hiệu quả, đáp ứng các chuẩn mực giáo dục trong kỷ nguyên số. Từ khóa: Việc sử dụng AI, nhóm kỹ năng 4C, sinh viên. Artificial intelligence integration in education: Reality and impacts on the 4C skills of Vietnamese students Artificial Intelligence (AI) is progressively becoming a pivotal technology in reshaping pedagogical methods and learning processes within higher education institutions. This article aims to analyze the current state of AI utilization and evaluate its impact on the 4C skills set (Critical Thinking, Creativity, Communication and Collaboration) among Vietnamese students through a synthesis of empirical evidence. Research findings indicate that while AI facilitates the optimization of performance outputs, excessive reliance poses potential risks to the deterioration of students' 4C competencies. Consequently, the paper proposes a synchronized system of solutions, ranging from perfecting legal frameworks and establishing technical standards to upgrading technological infrastructure and innovating digital pedagogy. These findings provide an essential scientific foundation for formulating effective AI integration strategies that meet educational standards in the digital era. Keywords: AI utilization, 4C skill set, students. JEL classification: I23, J24, D83 https://doi.org/10.65771/ati-jas.03202608 Giới thiệu Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, AI đang trở thành công nghệ quan trọng, tác động mạnh mẽ đến giáo dục đại học. Theo OECD (2023), AI cần được nhìn nhận như một tác nhân định hình sự phát triển năng lực người học trong thế kỷ 21. Tại Việt Nam, định hướng này được thể chế hóa qua Quyết định 131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 02/2025/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhấn mạnh tích hợp AI vào công tác giảng dạy, học tập và phát triển năng lực số cho người học. Hiện nay, AI không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn cho phép cá nhân hóa học tập, cung cấp phản hồi tức thời và tối ưu hóa đánh giá người học. Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích về nâng cao hiệu quả học tập và thúc đẩy tư duy bậc cao, AI cũng tiềm ẩn nguy cơ khiến người dùng phụ thuộc vào công nghệ. Các công cụ như ChatGPT cho thấy tác động hai chiều: vừa hỗ trợ phân tích và lập luận, vừa có thể làm suy giảm tư duy phản biện độc lập và mức độ tham gia học tập nếu sử dụng thiếu định hướng (Melisa và cộng sự, 2025). Điều này đặc biệt đáng chú ý trong giáo dục đại học, nơi nhóm kỹ năng 4C được xem là năng lực cốt lõi của người học. Mặc dù nhiều nghiên cứu đã đề cập đến tác động của việc sử dụng AI đối với từng kỹ năng riêng lẻ, vẫn chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam xem xét một cách tổng thể ảnh hưởng của việc sử dụng AI đến toàn bộ nhóm kỹ năng 4C. Trên cơ sở đó, nghiên cứu này tập trung vào việc: (1) phân tích thực trạng sử dụng AI của sinh viên Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến nhóm kỹ năng 4C và (2) đề xuất các giải pháp nhằm khai thác hiệu quả AI trong giáo dục đại học. 1. Khái quát về việc sử dụng trí tuệ nhân tạo và nhóm kỹ năng 4C 1.1. Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo Theo Gerlich (2025), việc sử dụng AI được xem xét thông qua hai khía cạnh chính gồm tần suất sử dụng và mức độ phụ thuộc vào AI trong quá trình ra quyết định, qua đó phản ánh mức độ mà công nghệ này được tích hợp vào các hoạt động thường xuyên của người dùng. Trong khi đó, Abbas và cộng sự (2024) tiếp cận khái niệm này trong bối cảnh giáo dục, khi định nghĩa việc sử dụng AI là mức độ mà sinh viên khai thác các công cụ AI cho những mục đích học tập cụ thể như làm bài tập, thực hiện dự án hoặc ôn tập cho kỳ thi. Cách tiếp cận này giúp làm rõ vai trò thực tiễn của AI trong hoạt động học thuật của sinh viên. Nhìn chung, hai quan điểm này bổ sung cho nhau khi vừa phản ánh khía cạnh hành vi sử dụng, vừa làm rõ bối cảnh ứng dụng AI trong giáo dục đại học. 1.2. Nhóm kỹ năng 4C Trong thời đại hiện nay, nhóm các kỹ năng thế kỷ 21 được xem là những năng lực thiết yếu. Một trong những khung năng lực nổi bật được đề xuất trên thế giới nhằm mô tả các kỹ năng này là “Khung năng lực học tập thế kỷ 21” của Tổ chức P21. Trong số các kỹ năng của thế kỷ 21, nhóm kỹ năng cốt lõi 4C gồm tư duy phản biện, tư duy sáng tạo, khả năng hợp tác và kỹ năng giao tiếp trở thành những cái tên nổi bật, then chốt và có giá trị cao nhất (Ananiadoui & Claro, 2009). 4C được xem là các kỹ năng mềm bậc cao, mang tính xuyên ngành giúp cá nhân thích ứng, học hỏi liên tục và duy trì năng lực cạnh tranh trong thế giới nghề nghiệp thay đổi nhanh. Về tư duy phản biện: Tư duy phản biện là khả năng phân tích, đánh giá và tổng hợp thông tin để đưa ra các quyết định có cơ sở, là một kỹ năng nhận thức nền tảng thiết yếu cho sự thành công trong học thuật, năng lực chuyên môn và trách nhiệm công dân (Halpern, 2010). Một số nghiên cứu gần đây đề xuất xem tư duy phản biện là khả năng đánh giá chất lượng tri thức luận của thông tin sẵn có và từ đó điều chỉnh mức độ tự tin của một người để hành động dựa trên thông tin đó (Pasquinelli và cộng sự, 2021). Về tư duy sáng tạo: Dưới góc độ tâm lý học, sáng tạo thường được định nghĩa như là khả năng sản sinh ra những sản phẩm độc đáo và mới lạ mà phù hợp với bối cảnh cũng như đáp ứng được yêu cầu hay nhiệm vụ (Runco & Jaeger, 2012). Sáng tạo cũng được định nghĩa là khả năng của cá nhân trong việc tạo ra các ý tưởng hoặc sản phẩm mang tính mới mẻ và giá trị thực tiễn; đây đã trở thành một năng lực thiết yếu trong kỷ nguyên số (Lin và cộng sự, 2013). Về kỹ năng giao tiếp: Ở định nghĩa cơ bản nhất, giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin nhằm làm thay đổi bối cảnh tri thức của người nhận. Trong các tình huống mang tính hợp tác, giao tiếp hướng đến việc truyền đạt thông tin một cách trôi chảy và hiệu quả để hỗ trợ đạt được mục tiêu hoặc kết quả mong muốn (Schultz, 2010). Khi có kỹ năng giao tiếp tốt, học sinh sẽ có năng lực giao tiếp và truyền đạt ý tưởng một cách rõ ràng và hiệu quả (Bialik & Fadel, 2015). Về khả năng hợp tác: Theo góc độ tương tác và mục tiêu chung, hợp tác được hiểu là sự tham gia lẫn nhau trong một nỗ lực phối hợp nhằm đạt được mục tiêu chung, bao gồm việc chia sẻ mục tiêu, nguồn lực và các đại diện liên quan đến hoạt động chung của những người tham gia (Détienne và cộng sự, 2012). Còn theo góc độ nguồn lực và năng lực, hợp tác liên quan đến việc chia sẻ kiến thức và nỗ lực chung giữa các cá nhân để hoàn thành các nhiệm vụ học tập cụ thể. Nó đòi hỏi các cá nhân phải làm việc tập thể, tận dụng tài năng, chuyên môn và trí tuệ kết hợp của họ để đạt được các mục tiêu đã chia sẻ (Lin và cộng sự, 2020). 2. Thực trạng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục tại Việt Nam Việc ứng dụng AI trong giáo dục tại Việt Nam đang phát triển nhanh chóng và trở thành xu hướng rõ nét. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Vinh, khảo sát năm 2024 trên 11.000 học sinh cho thấy 87% đã sử dụng AI trong học tập; khảo sát đầu năm 2025 với gần 35.000 giáo viên cũng ghi nhận 76% đã tích hợp AI vào giảng dạy, trong đó khoảng 70% có thái độ tích cực. Một nghiên cứu được trình bày tại Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy, khảo sát khoảng 500 sinh viên cho kết quả 98,9% người tham gia đã sử dụng AI cho học tập hoặc giải trí. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn đối mặt với các thách thức như hạn chế về năng lực sử dụng, thiếu hạ tầng công nghệ và lo ngại về độ chính xác, quyền riêng tư, bảo mật dữ liệu. Điều này cho thấy cần xây dựng khung năng lực AI bài bản để bảo đảm sử dụng hiệu quả và có trách nhiệm. Việt Nam hiện đang triển khai thí điểm tích hợp giáo dục AI vào chương trình từ lớp 1 đến lớp 12 dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chương trình được thực hiện từ tháng 12/2025 đến tháng 5/2026 nhằm đánh giá và hoàn thiện trước khi nhân rộng trên phạm vi toàn quốc. Theo Quyết định 3439/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khung giáo dục AI tập trung vào tư duy lấy con người làm trung tâm, đạo đức AI, kiến thức và ứng dụng kỹ thuật phù hợp với từng độ tuổi, nhằm phát triển năng lực AI và kỹ năng số cho học sinh. Tuy nhiên, việc triển khai còn gặp thách thức như thiếu nhân lực được đào tạo chuyên sâu và chưa hoàn thiện khung pháp lý, đặc biệt về quản lý dữ liệu và quyền riêng tư. Về hạ tầng công nghệ, Việt Nam đã đạt khoảng 90% trường học được kết nối Internet, hướng tới mục tiêu 100% theo chiến lược chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, chênh lệch hạ tầng giữa đô thị và vùng sâu, vùng xa vẫn còn rõ rệt; nhiều trường thiếu thiết bị học tập số và khả năng tiếp cận tài liệu số chất lượng. Tỷ lệ trung bình khoảng một máy tính cho ba học sinh, song phân bổ không đồng đều, đặc biệt hạn chế ở bậc tiểu học và khu vực khó khăn. Điều này khiến việc triển khai AI trong quản lý và giảng dạy gặp trở ngại, làm gia tăng nguy cơ khoảng cách số trong giáo dục. 3. Tác động của việc sử dụng trí tuệ nhân tạo đến nhóm kỹ năng 4C của sinh viên Việt Nam Đối với tư duy phản biện, nghiên cứu của Thuy và cộng sự (2024) cho thấy ChatGPT được sử dụng phổ biến và mang lại nhiều lợi ích về hỗ trợ tiếp cận, tóm tắt và xử lý thông tin học thuật. Phần lớn sinh viên đánh giá cao khả năng tra cứu nhanh, hệ thống hóa nội dung và hỗ trợ viết bài, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả học tập. Tuy nhiên, mở rộng phân tích theo chiều sâu, Dat và cộng sự (2025) lại nhấn mạnh mặt trái đáng lưu ý: dù hơn 70% người học thừa nhận tính hữu ích của AI, khoảng 60% vẫn lo ngại nguy cơ phụ thuộc quá mức, có thể dẫn đến suy giảm tư duy phản biện và sáng tạo. Đặc biệt, việc dựa vào nội dung do AI tạo ra khiến quá trình đánh giá, phản biện và kiến tạo lập luận cá nhân bị rút ngắn, làm mờ ranh giới giữa hỗ trợ học tập và thay thế năng lực tư duy độc lập. Đối với kỹ năng sáng tạo, Thuy và Thao (2025) tiếp cận từ góc nhìn giảng viên và ghi nhận những tác động tích cực của AI trong giảng dạy tiếng Anh. Nhiều giảng viên trẻ cho rằng AI giúp gia tăng tương tác, hỗ trợ phát triển ý tưởng và mở rộng khả năng biểu đạt của sinh viên; đồng thời vai trò của giảng viên cũng chuyển dịch theo hướng điều phối và hướng dẫn sáng tạo. Tuy vậy, nghiên cứu của Giang và cộng sự (2024) chỉ ra rằng mức độ giải thích của AI đối với khả năng sáng tạo còn hạn chế (34,6%), và sự phụ thuộc vào công cụ có thể làm giảm động lực nội tại - yếu tố quan trọng của tư duy sáng tạo bền vững. Khi sản phẩm học tập ngày càng dựa vào gợi ý thuật toán, nguy cơ đồng dạng hóa ý tưởng và suy giảm dấu ấn cá nhân trở nên rõ rệt hơn, đặc biệt trong bối cảnh sinh viên ưu tiên tối ưu hóa kết quả thay vì thử nghiệm sáng tạo. Ở khía cạnh kỹ năng giao tiếp, nghiên cứu thực nghiệm của Nguyễn Thị Thu Thủy (2025) cho thấy việc ứng dụng các công cụ AI như ELSA Speak và Duolingo giúp cải thiện đáng kể phát âm, độ trôi chảy và sự tự tin khi nói tiếng Anh. Nhóm sinh viên sử dụng AI đạt mức tăng trưởng năng lực vượt trội so với phương pháp truyền thống và phần lớn thể hiện sự hài lòng cao. Tuy nhiên, Hồng và cộng sự (2024) phát hiện một xu hướng tiêu cực đáng chú ý: mặc dù sinh viên đánh giá tích cực về công cụ, mức độ tham gia giảm mạnh theo thời gian, với tỷ lệ nộp bài suy giảm rõ rệt. Điều này cho thấy nếu thiếu cơ chế giám sát và động lực phù hợp, AI khó duy trì sự gắn kết lâu dài và có thể làm suy yếu tính bền vững của quá trình rèn luyện kỹ năng giao tiếp. Về khả năng hợp tác, Tài và Tuấn (2024) nhấn mạnh tiềm năng của AI trong việc tối ưu hóa tự học, thúc đẩy trao đổi học thuật và hỗ trợ hoạt động nhóm thông qua khai thác gợi ý từ các công cụ như ChatGPT. AI được xem là phương tiện tăng cường tương tác và nâng cao hiệu quả phối hợp trong môi trường học tập số. Tuy nhiên, Nguyệt và Hà (2025) khi phân tích trong bối cảnh học tập qua dự án lại chỉ ra rằng dù mức độ tham gia và kết quả nhóm có cải thiện, nguy cơ phụ thuộc quá mức vào công nghệ vẫn hiện hữu, đồng thời tương tác trực tiếp giữa các thành viên có xu hướng suy giảm. Khi AI đóng vai trò trung gian trong quá trình thảo luận và ra quyết định, kỹ năng thương lượng, giải quyết xung đột và xây dựng đồng thuận - những thành tố cốt lõi của hợp tác - có thể bị ảnh hưởng tiêu cực về dài hạn. Từ các phân tích thực trạng, có thể thấy thách thức lớn của Việt Nam khi ứng dụng AI trong giáo dục không nằm ở mức độ phổ biến mà ở năng lực kiểm soát và khai thác hiệu quả công nghệ này. Dù AI mang lại nhiều lợi ích trong học tập và hỗ trợ phát triển kỹ năng 4C, nguy cơ phụ thuộc quá mức đang dần làm suy giảm tư duy phản biện, tư duy sáng tạo nội tại, sự chủ động trong kỹ năng giao tiếp và chiều sâu khả năng hợp tác của sinh viên. Bên cạnh đó, hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ, đặc biệt giữa các khu vực, cùng với khuôn khổ pháp lý chưa hoàn thiện, làm gia tăng rủi ro về bảo mật và chất lượng triển khai. Nếu thiếu cơ chế định hướng và giám sát phù hợp, AI có thể phát triển nhanh hơn năng lực thích ứng của người học, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực trong dài hạn. 4. Đề xuất khuyến nghị Với yếu tố cản trở tới việc sử dụng AI trong giáo dục nằm ở khả năng khai thác và kiểm soát, Việt Nam buộc phải cải thiện hạ tầng công nghệ, nguồn nhân lực, chính sách đầu tư để phát triển bền vững và bắt kịp tốc độ của thế giới. Điều này đòi hỏi những cải cách mạnh mẽ về mặt pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật, khung đào tạo và chất lượng của đội ngũ giảng viên, điều mà Việt Nam vẫn đang gặp nhiều hạn chế. Ngoài ra, với tác động hai mặt của AI đến sự phát triển các kỹ năng 4C, các nhà giáo dục cần có những điều chỉnh bổ sung, tăng cường AI vào chương trình một cách có kiểm soát và định hướng, cũng như có những biện pháp để phát triển các kỹ năng cho sinh viên một cách độc lập và hiệu quả. 4.1. Đồng bộ khuôn khổ pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật và tập trung cải tiến hạ tầng công nghệ Thứ nhất, cần khẩn trương kiện toàn hành lang pháp lý thông qua việc đồng bộ hóa các khuôn khổ quy định về ứng dụng AI trong môi trường học thuật. Việc đồng bộ hóa khuôn khổ quy định thể hiện ở sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc tham mưu Chính phủ ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai Chiến lược AI ngành giáo dục. Quá trình này đảm bảo các quy định ngành giáo dục không tách rời mà phải nhất quán với tinh thần đột phá về chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới giáo dục, từ đó tạo ra một cơ sở pháp lý xuyên suốt từ cấp Chính phủ đến các cơ sở giáo dục đại học. Thứ hai, việc xác lập tiêu chuẩn kỹ thuật cần được cụ thể hóa thông qua việc ban hành khung năng lực hiểu biết về AI quốc gia và khung đạo đức AI chuyên biệt cho bậc giáo dục đại học. Các khung này đóng vai trò là tiêu chuẩn kỹ thuật về năng lực người học, xác định rõ các yêu cầu cần đạt về kiến thức, kỹ năng vận hành và ranh giới đạo đức trong tương tác giữa người và máy. Việc xác lập các chuẩn mực này không chỉ kế thừa lộ trình thí điểm từ Quyết định số 3439/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà còn tạo ra các rào cản kỹ thuật cần thiết về bảo mật dữ liệu và trách nhiệm giải trình. Đó sẽ là nền tảng để người học định vị AI là công cụ hỗ trợ, bảo vệ quyền tự chủ và liêm chính học thuật trong bối cảnh phát triển nhóm kỹ năng 4C. Thứ ba, cần nghiên cứu thiết lập Quỹ chuyển đổi số trong giáo dục đại học nhằm tạo lập nguồn lực tài chính chiến lược để huy động vốn xã hội hóa và đầu tư hạ tầng số đồng bộ. Quỹ này cần ưu tiên hỗ trợ phát triển các nền tảng trí tuệ nhân tạo do trong nước làm chủ công nghệ, đảm bảo sự tương thích tối ưu với đặc thù ngôn ngữ và dữ liệu văn hóa Việt Nam, đồng thời củng cố tính chủ động và an ninh thông tin quốc gia. Song song với đó, Chính phủ cần cam kết thực hiện lộ trình phổ cập Internet băng thông rộng và cung cấp trang thiết bị số hiện đại cho mọi cơ sở giáo dục, đặc biệt chú trọng đến tính hòa nhập nhằm xóa bỏ ranh giới số cho các nhóm sinh viên tại các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn. Ngoài ra, Nhà nước cần thiết lập cơ chế liên kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp công nghệ để chia sẻ tài nguyên phần cứng, phần mềm AI mã nguồn mở và các thiết bị AI thiết yếu, tạo hạ tầng vững chắc cho sinh viên thực hành phát triển nhóm kỹ năng 4C trong môi trường học tập thực tế. 4.2. Tích hợp AI trong chương trình đào tạo Các cơ sở giáo dục cần thiết kế chương trình đào tạo theo hướng tích hợp AI một cách thận trọng và định hướng phát triển năng lực. Cụ thể, AI nên được đưa vào các hoạt động học tập mang tính giải quyết vấn đề, yêu cầu sinh viên phân tích, phản biện và cải tiến các sản phẩm do AI tạo ra, thay vì chỉ sao chép hoặc chấp nhận kết quả. Cách tiếp cận này giúp hạn chế sự phụ thuộc thụ động, đồng thời thúc đẩy tư duy phản biện và sáng tạo. Đồng thời, các cơ sở giáo dục cũng cần xây dựng các học phần hoặc chuyên đề về việc sử dụng AI, từ đó nâng cao sự hiểu biết về AI, không chỉ tập trung vào kỹ năng sử dụng công cụ mà còn nhấn mạnh giới hạn và các vấn đề đạo đức của AI. Việc hiểu rõ cơ chế vận hành và hạn chế của AI sẽ giúp sinh viên sử dụng công nghệ một cách chủ động và có trách nhiệm, qua đó giảm thiểu sự phụ thuộc quá mức vào AI. Ngoài ra, các cơ sở giáo dục nên ban hành các hướng dẫn rõ ràng về việc sử dụng AI trong học tập, xác định ranh giới giữa tỷ lệ hỗ trợ hợp lệ và hành vi lệ thuộc. Đồng thời, việc lồng ghép các tiêu chí đánh giá kỹ năng 4C trong bối cảnh sử dụng AI sẽ giúp theo dõi mức độ phát triển năng lực của sinh viên và kịp thời điều chỉnh chiến lược giảng dạy. 4.3. Tích hợp phát triển kỹ năng trong môi trường học tập Để tích hợp hiệu quả nhóm kỹ năng 4C vào giáo dục, bước đầu tiên và then chốt là sự liên kết chặt chẽ giữa kỹ năng với nội dung đào tạo. Giảng viên cần lồng ghép các mục tiêu này vào hệ thống đánh giá và hoạt động cốt lõi của khóa học, hoặc thiết kế những học phần chuyên biệt nhằm phát triển năng lực bền vững cho sinh viên. Tiếp theo, việc tạo dựng môi trường thực hành đóng vai trò quyết định. Thông qua các hình thức như mô phỏng, nghiên cứu tình huống và dự án nhóm, người học có cơ hội vận dụng trực tiếp các kỹ năng thiết yếu vào thực tế, từ đó xây dựng nền tảng vững chắc cho sự thành công sau này (Rutherford, 2020). Các phương pháp giáo dục tích cực như học tập dựa trên dự án, trải nghiệm hoặc gắn liền với công việc sẽ thúc đẩy mạnh mẽ khả năng chuyển đổi kỹ năng. Những chiến lược này cần được linh hoạt điều chỉnh để tương thích với đặc thù của từng ngành học, giúp sinh viên sẵn sàng đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của thị trường lao động tương lai (Hutson & Ceballos, 2023). Cuối cùng, cơ chế phản hồi và hỗ trợ liên tục là không thể thiếu. Sự đồng hành của giảng viên thông qua các nguồn lực như cố vấn, huấn luyện hoặc mô hình học tập ngang hàng sẽ giúp sinh viên kịp thời điều chỉnh và hoàn thiện tiến trình phát triển cá nhân (Krause & Moore, 2022). Cách tiếp cận toàn diện này không chỉ trang bị kiến thức mà còn hình thành tư duy thích ứng cho người học trong kỷ nguyên mới. 5. Kết luận Việt Nam cần chuyển từ cách tiếp cận ứng dụng AI mang tính tự phát sang chiến lược phát triển năng lực AI dựa trên giá trị thực và định hướng bền vững. Thay vì chỉ phổ biến công cụ, giáo dục cần chú trọng nâng cao hiểu biết nền tảng về cơ chế vận hành, giới hạn, rủi ro đạo đức và khả năng kiểm chứng thông tin do AI tạo ra. Cách tiếp cận này giúp người học phát triển toàn diện nhóm kỹ năng 4C trong bối cảnh chuyển đổi số. Đồng thời, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mức độ sử dụng và hiểu biết về AI gắn với phát triển kỹ năng, bảo đảm tính minh bạch và phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Như vậy, AI sẽ trở thành công cụ hỗ trợ phát triển năng lực con người thay vì tạo ra sự phụ thuộc. Tài liệu tham khảo 1. A well-structured strategy for integrating artificial intelligence into schools is urgently needed. (2025). VnExpress; 2. Bùi, T. H. G., Cao, M. A., Huỳnh, H. A., Nguyễn, L. H. A., Nguyễn, H. N. H., & Phạm, T. C. Q. (2024). Tác động của sử dụng công cụ AI và tự chủ học tập đến khả năng sáng tạo và thành tích học tập thông qua động lực học tập của sinh viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. FTU Working Paper Series, 1(6); 3. Dinh, T. B. N., & Le, T. H. (2025). Investigating the effectiveness of AI-powered collaborative tools on facilitating group projects in higher educational institutions. Computer - Assisted Language Learning Electronic Journal, 26(4), 304–320; 4. Gerlich, M. (2025). AI tools in society: Impacts on cognitive offloading and the future of critical thinking. Societies, 15(1), 6; 5. Hồng, N. X., Thuý, L. T., Khôi, Đ. Đ., Như, H. Q., & Hạnh, N. T. T. (2024). Students’ attitudes toward utilizing AI-based technologies to their speaking proficiency: A case study. Tạp Chí Khoa Học, 21(5); 6. Hutson, J., & Ceballos, J. (2023). Rethinking education in the age of AI: The importance of developing durable skills in the Industry 4.0. Journal of Information Economics, 1(2); 7. Khanh Linh. (2026, January 19). Vietnam to pilot AI teaching across grades 1–12. VnExpress International; 8. Krause, A. J., & Moore, S. Y. (2022). Creating an online peer-to-peer mentoring program: Promoting student relationships, engagement, and satisfaction during the era of COVID-19. College Teaching, 70(3), 296–308; 9. Lin, C. F., Yeh, Y. C., Hung, Y. H., & Chang, R. I. (2013). Data mining for providing a personalized learning path in creativity: An application of decision trees. Computers & Education, 68, 199–210; 10. Lin, K. Y., Yu, K. C., Hsiao, H. S., Chang, Y. S., & Chien, Y. H. (2020). Effects of web-based versus classroom-based STEM learning environments on the development of collaborative problem-solving skills in junior high school students. International Journal of Technology and Design Education, 30(1), 21–34; 11. Melisa, R., Ashadi, A., Triastuti, A., Hidayati, S., Salido, A. S. E., Ero, P. E. L., Marlini, C., Zefrin, Z., & Al Fuad, Z. A. (2025). Critical thinking in the age of AI: A systematic review of AI’s effects on higher education. Educational Process: International Journal, 14(1), Article e2025031; 12. Nguyen, T. N. T., Lai, N. V., & Nguyen, Q. T. (2024). Artificial intelligence (AI) in education: A case study on ChatGPT’s influence on student learning behaviors. Educational Process International Journal, 13(2); 13. Pasquinelli, E., & Bronner, G. (2021). Éduquer à l’esprit critique: Bases théoriques et indications pratiques pour l’enseignement et la formation; 14. Rutherford, S. (2020). Using desirable difficulty concepts to enhance durable learning in design education. Art, Design & Communication in Higher Education, 19(1), 65–79; 15. Schultz, D. M. (2010). 3.6 Eloquent science: A course to improve scientific and communication skills; 16. Truong, D. T., Pham, Q. H., & Tran, G. Q. (2025). The impact of ChatGPT on research and learning methods of university students in Ho Chi Minh City; 17. UNESCO. (2025). Viet Nam artificial intelligence readiness assessment report. United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization. Ngày nhận bài: 06/02/2026 Ngày chỉnh sửa: 09/02/2026 Ngày duyệt đăng: 12/03/2026 Tác giả: Tạ Thu Phương, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Bảo Anh, Trần Minh Đồng, Tạ Huy Hải, Trần Thu Trang Đại học Kinh tế Quốc dân; Email: tathuphuong.neu@gmail.com (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 3/2026)

Kiểm toán ngân sách địa phương theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp - những vấn đề đặt ra và giải pháp

Việc áp dụng mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang được triển khai ở Việt Nam. Mô hình này hướng tới tinh gọn bộ máy, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả quản trị địa phương. Tuy nhiên, sự thay đổi về cấu trúc tổ chức chính quyền địa phương sẽ kéo theo những thay đổi đáng kể trong quản lý ngân sách địa phương và đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động kiểm toán ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về kiểm toán ngân sách địa phương trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, đánh giá những vấn đề đặt ra đối với hoạt động kiểm toán ngân sách khi thay đổi mô hình tổ chức chính quyền, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện phương thức kiểm toán, tổ chức kiểm toán và khung pháp lý để nâng cao hiệu quả kiểm toán ngân sách địa phương trong bối cảnh mới. Từ khóa: Ngân sách địa phương, chính quyền địa phương hai cấp, kiểm toán. Local budget auditing under the two-tier local government model: challenges and solutions The implementation of a two-tier local government model is currently being deployed in Vietnam. This model aims to streamline the administrative apparatus, enhance decentralization and the delegation of power and improve the efficiency of local governance. However, structural changes in local government organization will inevitably lead to significant shifts in local budget management and impose new requirements on the local budget auditing of the State Audit Office. This article analyzes the theoretical foundations of local budget auditing within the context of a two-tier local government structure. Furthermore, it evaluates the challenges facing budget auditing activities during this organizational transition, thereby proposing solutions to refine auditing methodologies, audit implementation and the legal framework to enhance the effectiveness of local budget audits in the new context. Keywords: Local budget, two-tier local government, audit. JEL classification: H72, H83, M42 https://doi.org/10.65771/ati-jas.03202602 1. Giới thiệu Trong những năm gần đây, cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả đã trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình cải cách thể chế tại Việt Nam. Trước đây, chính quyền địa phương ở Việt Nam được tổ chức theo ba cấp: tỉnh, huyện và xã. Tuy nhiên, mô hình này đã bộc lộ một số hạn chế như bộ máy hành chính cồng kềnh, chi phí quản lý lớn, sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ và hiệu quả quản trị chưa cao. Trong bối cảnh đó, việc áp dụng mô hình hai cấp chính quyền địa phương được xem là một hướng cải cách nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và tăng cường tính tự chủ trong quản lý tài chính công. Sự thay đổi về cấu trúc tổ chức chính quyền địa phương sẽ kéo theo những thay đổi đáng kể trong quản lý ngân sách địa phương, đặc biệt là cơ chế phân cấp quản lý ngân sách, cơ cấu thu - chi ngân sách và trách nhiệm giải trình tài chính công. Những thay đổi này đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động kiểm toán ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước Việt Nam. 2. Quản lý ngân sách địa phương khi chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp 2.1. Thay đổi “kiến trúc hệ thống ngân sách”: từ mô hình ba cấp sang hai cấp ở địa phương Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 thiết kế hệ thống ngân sách địa phương gắn với mô hình tổ chức chính quyền địa phương ba cấp, bao gồm ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã. Trong thực tiễn vận hành, cấu trúc này thể hiện rõ trong quy trình lập, tổng hợp, và phê chuẩn dự toán cũng như quyết toán ngân sách theo chuỗi tỉnh - huyện - xã. Ngân sách cấp xã sau khi được Hội đồng nhân dân cấp xã phê chuẩn phải gửi lên cấp huyện; ngân sách cấp huyện tiếp tục được tổng hợp và trình Hội đồng nhân dân cấp huyện phê chuẩn trước khi báo cáo lên cấp tỉnh. Cơ chế này cho thấy cấp huyện không chỉ là một cấp ngân sách độc lập mà còn đóng vai trò là tầng trung gian trong chuỗi quản lý và kiểm soát ngân sách địa phương. Tuy nhiên, Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 đã thiết kế lại cấu trúc hệ thống ngân sách nhằm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Theo nguyên tắc phân cấp tại Điều 9 của Luật, hệ thống ngân sách được tổ chức theo ba cấp gồm ngân sách trung ương, ngân sách cấp tỉnh và ngân sách cấp xã. Sự thay đổi này dẫn đến việc “xóa bỏ” một lớp quan hệ ngân sách dọc trước đây giữa tỉnh - huyện và huyện - xã, thay thế bằng quan hệ trực tiếp giữa cấp tỉnh và cấp xã. Nói cách khác, chuỗi quản lý ngân sách địa phương được rút ngắn từ ba tầng xuống còn hai tầng. 2.2. Thay đổi cơ chế phân cấp tài khóa ở địa phương Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương. Trong bối cảnh hệ thống chính quyền ba cấp, nội dung phân cấp này thực chất là việc phân chia nguồn lực tài chính giữa ba cấp ngân sách: tỉnh, huyện và xã. Trong mô hình đó, cấp huyện vừa trực tiếp thực hiện một số nhiệm vụ chi ngân sách, vừa đóng vai trò điều phối nguồn lực tài chính giữa cấp tỉnh và cấp xã. Trên thực tế, nhiều quyết định điều chỉnh phân bổ ngân sách ở cấp cơ sở thường được thực hiện thông qua cấp huyện trước khi đến cấp xã. Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 tiếp tục khẳng định vai trò của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong việc quyết định phân cấp tài khóa ở địa phương, nhưng quan hệ phân cấp được xác định lại theo hướng giữa ngân sách cấp tỉnh và ngân sách cấp xã. Sự thay đổi này không chỉ mang tính kỹ thuật về mặt pháp lý mà còn phản ánh sự điều chỉnh cấu trúc quyền lực tài khóa trong hệ thống ngân sách địa phương. Trong mô hình mới, vai trò điều phối ngân sách được tập trung trực tiếp tại cấp tỉnh, trong khi cấp xã trở thành cấp ngân sách cơ sở trực tiếp thực hiện nhiều nhiệm vụ chi ngân sách hơn. Điều này làm tăng yêu cầu đối với năng lực quản lý tài chính của cấp tỉnh, đặc biệt trong việc xây dựng tiêu chí phân bổ ngân sách, dự báo thu - chi ngân sách cấp xã và thiết kế cơ chế giám sát tuân thủ. 2.3. Thay đổi cơ chế báo cáo, tổng hợp dự toán và quyết toán ngân sách Một thay đổi quan trọng khác khi chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp là cơ chế báo cáo và tổng hợp ngân sách. Trong mô hình ba cấp trước đây, quy trình báo cáo ngân sách được thực hiện theo chuỗi xã - huyện - tỉnh. Cấp huyện đóng vai trò kiểm tra kỹ thuật, rà soát số liệu và chuẩn hóa biểu mẫu trước khi chuyển báo cáo lên cấp tỉnh. Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 đã điều chỉnh cơ chế này theo hướng thiết lập quan hệ báo cáo trực tiếp giữa cấp xã và cấp tỉnh. Theo quy định của Luật, Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo dự toán và quyết toán ngân sách trực tiếp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan tài chính cấp tỉnh; sau đó cấp tỉnh tổng hợp và báo cáo Bộ Tài chính. Sự thay đổi này phản ánh xu hướng tinh giản tầng nấc hành chính trong quản lý ngân sách, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với hệ thống quản lý dữ liệu tài chính công. Khi không còn tầng trung gian của cấp huyện, các sai sót về dữ liệu ngân sách hoặc sự không thống nhất trong áp dụng biểu mẫu và định mức có thể được chuyển trực tiếp từ cấp xã lên cấp tỉnh. 2.4. Điều chỉnh nguyên tắc phân cấp và mức độ tự chủ tài khóa của cấp xã Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 xác định nguyên tắc phân cấp ngân sách theo hướng gắn quyền hạn với trách nhiệm, trong đó cấp ngân sách nào được giao nhiệm vụ chi thì phải được bảo đảm nguồn thu tương ứng. Tuy nhiên, trong cấu trúc ba cấp trước đây, mức độ tự chủ tài khóa của cấp xã thường chịu ảnh hưởng đáng kể từ vai trò điều phối ngân sách của cấp huyện. Khi chuyển sang mô hình hai cấp, Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 xác định trực tiếp quan hệ phân cấp giữa ngân sách cấp tỉnh và ngân sách cấp xã. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định tỷ lệ phân chia các khoản thu giữa hai cấp ngân sách, đồng thời quyết định cơ chế bổ sung ngân sách cho các địa phương cấp cơ sở. Điều này cho thấy mức độ tự chủ tài khóa của cấp xã trong mô hình mới phụ thuộc lớn vào thiết kế cơ chế phân chia nguồn thu và cơ chế bổ sung ngân sách từ cấp tỉnh. Khi không còn tầng trung gian là cấp huyện, các quyết định phân bổ ngân sách của cấp tỉnh sẽ tác động trực tiếp đến các xã. Do đó, trách nhiệm giải trình của cấp tỉnh trong việc bảo đảm sự công bằng trong phân bổ ngân sách giữa các địa phương cấp cơ sở sẽ trở nên quan trọng hơn. 2.5. Thay đổi trong phân cấp quản lý các dự án đầu tư công ở địa phương Chi đầu tư phát triển là một cấu phần lớn của ngân sách địa phương, do đó việc điều chỉnh mô hình ngân sách sẽ kéo theo sự điều chỉnh về thẩm quyền quyết định và quản lý các dự án đầu tư công. Trong giai đoạn chuyển tiếp, một số dự án đầu tư công trước đây thuộc thẩm quyền quyết định của cấp huyện có thể được chuyển giao cho cấp tỉnh hoặc cấp xã quản lý. Điều này có thể làm thay đổi chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý đối với dự án và làm biến đổi chuỗi dấu vết kiểm soát của dự án đầu tư công. Từ góc độ kiểm toán, sự thay đổi này có thể làm phát sinh các rủi ro liên quan đến việc truy vết hồ sơ dự án, đặc biệt đối với các dự án đang triển khai trong giai đoạn chuyển tiếp giữa hai mô hình tổ chức chính quyền. Do đó, kiểm toán ngân sách địa phương cần được thiết kế theo hướng bảo đảm theo dõi đầy đủ chuỗi quyết định đầu tư, nguồn vốn, điều chỉnh dự án và quyết toán vốn đầu tư theo thẩm quyền mới. Những thay đổi nêu trên cho thấy việc chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ làm thay đổi cấu trúc quản lý ngân sách mà còn làm biến đổi chuỗi kiểm soát tài chính công tại địa phương. Chính sự thay đổi này làm phát sinh những rủi ro mới trong quản lý ngân sách cấp cơ sở, đồng thời đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh phương thức tổ chức kiểm toán ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. 3. Tác động của phân cấp ngân sách theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp đến rủi ro quản lý ngân sách ở địa phương Việc chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ làm thay đổi cấu trúc tổ chức chính quyền mà còn làm biến đổi đáng kể cơ chế quản lý ngân sách địa phương. Trong mô hình ba cấp trước đây, cấp huyện đóng vai trò là một tầng trung gian quan trọng trong việc kiểm soát ngân sách cấp xã. Cơ quan tài chính cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ như hướng dẫn lập dự toán, thẩm tra quyết toán ngân sách xã, kiểm tra việc chấp hành chế độ tài chính và hỗ trợ chuyên môn cho cán bộ tài chính xã. Cơ chế này giúp giảm bớt rủi ro sai sót trong quản lý ngân sách ở cấp cơ sở do cấp huyện có thể phát hiện và xử lý các sai sót trước khi báo cáo lên cấp tỉnh. Khi mô hình chính quyền địa phương chuyển sang hai cấp, vai trò kiểm soát trung gian của cấp huyện sẽ không còn. Trong khi đó, năng lực quản lý tài chính của nhiều đơn vị cấp xã vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở các địa bàn nông thôn hoặc vùng khó khăn. Điều này có thể làm gia tăng rủi ro sai phạm trong quản lý ngân sách cấp cơ sở, bao gồm các rủi ro về lập dự toán không sát thực tế, chi tiêu ngân sách không đúng chế độ, quản lý tài sản công chưa chặt chẽ hoặc thiếu minh bạch trong sử dụng ngân sách. Bên cạnh đó, việc tăng quyền tự chủ tài chính cho chính quyền cấp xã cũng có thể làm gia tăng rủi ro quản trị nếu hệ thống kiểm soát tài chính không được thiết kế phù hợp. Khi quyền quyết định chi tiêu ngân sách được phân cấp mạnh hơn cho cấp cơ sở, chính quyền cấp xã sẽ có nhiều quyền chủ động hơn trong phân bổ nguồn lực ngân sách. Tuy nhiên, nếu thiếu các cơ chế giám sát hiệu quả, việc phân cấp này có thể dẫn đến tình trạng chi tiêu kém hiệu quả hoặc thiếu minh bạch trong quản lý ngân sách. Trong bối cảnh đó, vai trò của kiểm toán nhà nước trong việc giám sát ngân sách địa phương trở nên quan trọng hơn. Kiểm toán ngân sách địa phương không chỉ cần tập trung vào việc kiểm tra tính tuân thủ pháp luật mà còn cần đánh giá hiệu quả của cơ chế phân cấp quản lý ngân sách và mức độ minh bạch trong quản lý tài chính công ở cấp cơ sở. 4. Những vấn đề đặt ra đối với Kiểm toán nhà nước trong tổ chức kiểm toán ngân sách địa phương theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp Việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp không chỉ làm thay đổi cơ chế quản lý hành chính mà còn tác động sâu sắc đến hoạt động kiểm toán ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Kiểm toán nhà nước sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức mới liên quan đến phạm vi kiểm toán, phương thức tổ chức kiểm toán cũng như năng lực của đội ngũ kiểm toán viên. Thứ nhất, sự gia tăng quy mô và phạm vi đối tượng kiểm toán. Trong mô hình chính quyền địa phương ba cấp trước đây, ngân sách cấp huyện đóng vai trò là một tầng trung gian trong quản lý ngân sách địa phương. Cấp huyện không chỉ thực hiện nhiệm vụ điều hành ngân sách mà còn đóng vai trò hỗ trợ và kiểm tra việc quản lý ngân sách của các xã trên địa bàn. Khi chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, không còn cấp huyện dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong cấu trúc đối tượng kiểm toán. Trước đây, Kiểm toán nhà nước thường tổ chức kiểm toán ngân sách cấp tỉnh và kiểm toán chọn mẫu một số huyện, và khi kiểm toán mỗi huyện thì chọn mẫu kiểm toán một số xã. Khi chuyển sang mô hình hai cấp (sáp nhập tỉnh, bỏ cấp huyện, tổ chức lại cấp xã), cả nước còn 34 tỉnh, thành phố với 3.321 xã, số đầu mối trực thuộc ngân sách cấp tỉnh tăng đáng kể so với trước (từ 696 cấp huyện lên 3.321 cấp xã), làm tăng khối lượng kiểm toán ngân sách địa phương (trước đây kiểm toán khoảng 50% cấp huyện), gây áp lực lớn cho Kiểm toán nhà nước trong việc lựa chọn mẫu kiểm toán. Nếu không có sự điều chỉnh phù hợp về phương thức tổ chức kiểm toán, việc bảo đảm phạm vi bao quát của hoạt động kiểm toán ngân sách địa phương sẽ gặp nhiều khó khăn. Thứ hai, sự thay đổi cơ chế, chính sách ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của đoàn kiểm toán trong năm 2026. Các cơ chế, chính sách thay đổi để phù hợp với mô hình quản lý mới của các cấp chính quyền dẫn đến ảnh hưởng đến công tác tổ chức hoạt động kiểm toán, nhất là sự thay đổi khi Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, cụ thể: (i) Năm 2026 kiểm toán niên độ ngân sách 2025, đây là năm chuyển tiếp giữa hai mô hình. Mỗi địa phương có 06 tháng đầu năm hoạt động theo mô hình quản lý chính quyền địa phương cũ (03 cấp); 06 tháng cuối năm tổ chức theo mô hình chính quyền 02 cấp. (ii) Việc tổ chức các cơ quan quản lý nhà nước về thu, chi ngân sách địa phương có sự không đồng nhất ở các cấp chính quyền địa phương nên khó khăn trong việc tổ chức mô hình Đoàn kiểm toán. Ở cấp tỉnh, cơ quan Thuế, tài chính được tổ chức theo từng tỉnh, tuy nhiên cơ quan Kho bạc Nhà nước, Hải quan được tổ chức theo khu vực bao gồm nhiều tỉnh, thành phố nên không có sự đồng bộ. Ở cấp xã không có phòng Tài chính - Kế hoạch (với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu về quản lý ngân sách) riêng như cấp huyện trước đây, mà chỉ là một bộ phận của phòng Kinh tế, làm giảm hiệu quả kiểm soát nội bộ trong quản lý ngân sách cơ sở; cơ quan Thuế và Kho bạc được tổ chức theo khu vực nhiều xã nên không đồng bộ; ban quản lý dự án cấp xã chưa thành lập riêng mà gắn với đơn vị sự nghiệp do Ủy ban nhân dân xã quản lý sẽ dẫn đến hạn chế trong công tác quản lý vốn đầu tư công. (iii) Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, cấp xã là một cấp ngân sách, được phân cấp quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể. Tuy nhiên, việc phân cấp quản lý ngân sách cấp xã tại mỗi địa phương không giống nhau, nhất là về phân cấp quản lý thu và quản lý chi đầu tư xây dựng. (iv) Luật ngân sách nhà nước 2025 rút ngắn thời gian quyết toán ngân sách nhà nước các cấp: Hội đồng nhân dân cấp xã phê duyệt báo cáo quyết toán trước 31/3 năm sau; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp, lập quyết toán ngân sách địa phương gửi Bộ Tài chính và Kiểm toán nhà nước trước 01/5, trình Hội đồng nhân dân tỉnh phê duyệt trước 01/7. Điều này sẽ tạo áp lực rất lớn cho Kiểm toán nhà nước phải hoàn thành 34 đoàn kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương trước ngày 01/7. Thứ ba, gia tăng rủi ro đối với đoàn kiểm toán và kiểm toán viên. Việc gia tăng số lượng đơn vị được kiểm toán trong khi nguồn lực kiểm toán có hạn cũng làm tăng nguy cơ không phát hiện hết các sai sót trong quản lý ngân sách của các đơn vị được kiểm toán. Trong điều kiện thời gian và nhân sự kiểm toán bị hạn chế, kiểm toán viên có thể buộc phải lựa chọn kiểm tra theo phương pháp chọn mẫu hoặc tập trung vào một số nội dung kiểm toán trọng tâm. Mặc dù phương pháp này phù hợp với nguyên tắc kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro, nhưng trong thực tiễn vẫn có khả năng bỏ sót một số sai sót trọng yếu xảy ra tại các đơn vị được kiểm toán. Ngoài ra, việc mở rộng phạm vi kiểm toán xuống cấp cơ sở còn làm tăng yêu cầu đối với công tác quản lý và điều hành của đoàn kiểm toán. Kiểm toán viên không chỉ phải kiểm tra các số liệu tài chính mà còn phải đánh giá tính tuân thủ pháp luật và hiệu quả sử dụng ngân sách tại nhiều đơn vị với đặc điểm kinh tế - xã hội khác nhau. Điều này đòi hỏi đoàn kiểm toán phải tổ chức công việc một cách khoa học, phân công nhiệm vụ hợp lý và tăng cường phối hợp giữa các thành viên trong đoàn kiểm toán nhằm bảo đảm chất lượng của cuộc kiểm toán. Những thách thức nêu trên cho thấy việc gia tăng rủi ro trong quản lý ngân sách cấp cơ sở không chỉ đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả giám sát tài chính công mà còn đòi hỏi Kiểm toán nhà nước phải có những điều chỉnh phù hợp về phương thức tổ chức kiểm toán, phân bổ nguồn lực kiểm toán và áp dụng các phương pháp kiểm toán hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện sai sót trong quản lý ngân sách địa phương. 5. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm toán ngân sách địa phương trong mô hình chính quyền hai cấp 5.1. Điều chỉnh phương thức tổ chức kiểm toán trong giai đoạn chuyển tiếp giữa hai mô hình quản lý ngân sách Thứ nhất, năm 2026 là năm đặc biệt đối với hoạt động kiểm toán ngân sách địa phương khi Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán niên độ ngân sách năm 2025 - năm chuyển tiếp giữa hai mô hình tổ chức chính quyền địa phương. Để khắc phục khó khăn này, Kiểm toán nhà nước cần tách biệt phạm vi kiểm toán cho hai giai đoạn quản lý ngân sách trong niên độ ngân sách kiểm toán được kiểm toán. Đối với sáu tháng đầu năm 2025, việc kiểm toán cần được thực hiện theo mô hình quản lý ngân sách của mô hình ba cấp, trong đó cấp huyện vẫn là chủ thể quản lý ngân sách trung gian. Đối với sáu tháng cuối năm, các thủ tục kiểm toán cần được thiết kế thực hiện theo mô hình quản lý ngân sách hai cấp, trong đó trách nhiệm quản lý ngân sách được chuyển trực tiếp từ cấp huyện lên cấp tỉnh hoặc xuống cấp xã. Thứ hai, đối với việc tổ chức các cơ quan quản lý nhà nước về thu, chi ngân sách địa phương có sự không đồng nhất ở các cấp chính quyền địa phương, Kiểm toán nhà nước cần nghiên cứu tổ chức đoàn kiểm toán theo hướng kết hợp kiểm toán theo địa bàn với kiểm toán theo hệ thống ngành dọc. Theo đó, ngoài các tổ kiểm toán thực hiện kiểm toán tại các xã, phường, cần bố trí các tổ kiểm toán tổng hợp để kiểm toán các cơ quan quản lý thu và chi ngân sách hoạt động theo khu vực như Kho bạc Nhà nước hoặc cơ quan thuế. Cách tiếp cận này sẽ giúp bảo đảm việc thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán và giảm bớt sự chồng chéo trong phạm vi kiểm toán giữa các tổ kiểm toán. Thứ ba, theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, ngân sách cấp xã là một cấp ngân sách độc lập với các nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể. Tuy nhiên, việc phân cấp quản lý ngân sách cấp xã tại các địa phương có thể không đồng nhất, đặc biệt đối với các khoản thu ngân sách và các khoản chi đầu tư xây dựng. Do vậy, Kiểm toán nhà nước cần tăng cường kiểm toán tại cấp cơ sở. Trên thực tế, việc kiểm toán toàn bộ các đơn vị cấp xã là không khả thi do số lượng đơn vị rất lớn. Vì vậy, Kiểm toán nhà nước cần áp dụng phương pháp kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro để lựa chọn các xã có quy mô ngân sách lớn hoặc có dấu hiệu rủi ro cao đưa vào phạm vi kiểm toán. Thứ tư, Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 đã rút ngắn đáng kể thời gian quyết toán ngân sách nhà nước. Quy định này tạo áp lực lớn đối với Kiểm toán nhà nước, bởi các cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương phải hoàn thành trong thời gian rất ngắn để kịp phục vụ việc phê chuẩn quyết toán ngân sách của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Để đáp ứng yêu cầu này, Kiểm toán nhà nước cần điều chỉnh kế hoạch kiểm toán theo hướng tăng cường kiểm toán sớm và kiểm toán giữa niên độ ngân sách. Việc tổ chức các cuộc kiểm toán chuyên đề hoặc kiểm toán giữa niên độ sẽ giúp kiểm toán viên phát hiện sớm các sai sót trong quản lý ngân sách, từ đó giảm khối lượng công việc trong giai đoạn kiểm toán báo cáo quyết toán. 5.2. Hoàn thiện phương pháp kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro Trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương hai cấp làm gia tăng số lượng đơn vị sử dụng ngân sách cấp cơ sở, việc tiếp tục áp dụng phương thức kiểm toán truyền thống với phạm vi kiểm toán rộng và kiểm tra chi tiết đối với nhiều đơn vị có thể không còn phù hợp. Nguồn lực kiểm toán của Kiểm toán nhà nước là hữu hạn, trong khi phạm vi đối tượng cần được giám sát ngày càng mở rộng. Vì vậy, việc hoàn thiện và áp dụng một cách hiệu quả phương pháp kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro trở thành một yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm toán ngân sách địa phương. Theo cách tiếp cận này, Kiểm toán nhà nước cần xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá rủi ro đối với quản lý ngân sách địa phương, qua đó xác định các lĩnh vực, địa phương hoặc đơn vị sử dụng ngân sách có khả năng phát sinh sai sót hoặc sai phạm cao. Các tiêu chí đánh giá rủi ro có thể bao gồm quy mô ngân sách của địa phương, tỷ trọng chi đầu tư phát triển, mức độ hoàn thiện của hệ thống kiểm soát nội bộ, cũng như kết quả thanh tra, kiểm toán trong các kỳ trước. Trên cơ sở kết quả đánh giá rủi ro, Kiểm toán nhà nước có thể lựa chọn các nội dung kiểm toán trọng tâm và xác định phạm vi kiểm toán phù hợp, từ đó bảo đảm việc sử dụng nguồn lực kiểm toán một cách hiệu quả và nâng cao khả năng phát hiện các sai sót trong quản lý ngân sách. 5.3. Tăng cường kiểm toán hoạt động đối với quản lý và sử dụng ngân sách địa phương Trong bối cảnh phân cấp mạnh mẽ cho chính quyền địa phương trong quản lý và sử dụng ngân sách, yêu cầu đối với hoạt động kiểm toán không chỉ dừng lại ở việc đánh giá tính tuân thủ pháp luật mà còn phải xem xét mức độ hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực ngân sách. Vì vậy, việc tăng cường kiểm toán hoạt động đối với quản lý ngân sách địa phương là một định hướng quan trọng nhằm nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát tài chính công. Kiểm toán hoạt động cho phép đánh giá liệu các chương trình chi tiêu ngân sách của địa phương có đạt được mục tiêu đề ra hay không và liệu các nguồn lực tài chính có được sử dụng một cách tiết kiệm và hiệu quả hay không. Thông qua các cuộc kiểm toán hoạt động, Kiểm toán nhà nước có thể phát hiện những hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện các chương trình chi tiêu công, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công. Đối với ngân sách địa phương, kiểm toán hoạt động có thể tập trung vào một số lĩnh vực có quy mô chi lớn hoặc có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân, như các chương trình đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, các chương trình mục tiêu quốc gia hoặc các chính sách an sinh xã hội. Việc mở rộng kiểm toán hoạt động trong các lĩnh vực này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả giám sát ngân sách mà còn góp phần tăng cường trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương trong việc sử dụng ngân sách nhà nước. 5.4. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và phân tích dữ liệu trong kiểm toán Sự phát triển của công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý tài chính công đang tạo ra những cơ hội mới cho hoạt động kiểm toán. Trong bối cảnh dữ liệu ngân sách ngày càng lớn và phức tạp, việc ứng dụng công nghệ thông tin và các công cụ phân tích dữ liệu trở thành một yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả kiểm toán ngân sách địa phương. Thông qua việc khai thác và phân tích dữ liệu ngân sách từ các hệ thống quản lý tài chính công, kiểm toán viên có thể nhanh chóng phát hiện các dấu hiệu bất thường trong quản lý và sử dụng ngân sách. Ví dụ, các công cụ phân tích dữ liệu có thể giúp phát hiện những khoản chi ngân sách vượt định mức, những dự án đầu tư công có dấu hiệu chậm tiến độ hoặc những đơn vị có mức chi tiêu bất thường so với các đơn vị tương tự. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng giúp cải thiện hiệu quả tổ chức kiểm toán trong điều kiện phạm vi kiểm toán ngày càng mở rộng. Thay vì phải kiểm tra trực tiếp tất cả các hồ sơ, tài liệu tại đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên có thể sử dụng các hệ thống dữ liệu điện tử để thực hiện các bước phân tích ban đầu, từ đó xác định các nội dung cần kiểm tra sâu hơn tại đơn vị. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian kiểm toán mà còn nâng cao khả năng phát hiện rủi ro trong quản lý ngân sách địa phương. Kết luận Việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp là một xu hướng cải cách nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương. Tuy nhiên, sự thay đổi này cũng đặt ra nhiều thách thức đối với hoạt động kiểm toán ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Do đó, việc đổi mới phương thức tổ chức kiểm toán theo hướng tăng cường đánh giá rủi ro, ứng dụng công nghệ thông tin và nâng cao năng lực kiểm toán viên là những giải pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả giám sát tài chính công. Tài liệu tham khảo 1. Quốc hội (2015), Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13. 2. Quốc hội (2025), Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15. 3. Quốc hội (2019), Luật Kiểm toán nhà nước số 55/2019/QH14. 4. Kiểm toán nhà nước (2026), Hệ thống Chuẩn mực kiểm toán nhà nước (ban hành kèm theo Thông tư số 04/2026/TT-KTNN ngày 10/02/2026); 5. Kiểm toán nhà nước (2026), Hướng dẫn kiểm toán ngân sách địa phương (ban hành kèm theo Quyết định số 185/QĐ-KTNN ngày 05/02/2026). Ngày nhận bài: 11/02/2026 Ngày chỉnh sửa: 12/02/2026 Ngày duyệt đăng: 12/03/2026 Tác giả: ThS Trần Quang Huy Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, Kiểm toán nhà nước; Email: huytq@sav.gov.vn (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 3/2026)

Quản lý ngân sách nhà nước gắn với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và những vấn đề đặt ra đối với Kiểm toán nhà nước trong tổ chức kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương

Ngân sách nhà nước là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế - xã hội và bảo đảm nguồn lực tài chính cho hoạt động của bộ máy công quyền. Trong hệ thống ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương có vai trò trực tiếp bảo đảm nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy hành chính và định hướng xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cơ chế quản lý ngân sách địa phương cần được điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý tài chính công. Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 đã bổ sung nhiều quy định nhằm tăng cường phân cấp quản lý ngân sách, nâng cao tính tự chủ tài chính của địa phương và tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính. Đồng thời, khoản 2 Điều 73 của Luật quy định Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương trước khi gửi Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, phê chuẩn. Bài viết phân tích những vấn đề về quản lý ngân sách nhà nước ở địa phương theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời làm rõ những vấn đề đặt ra đối với Kiểm toán nhà nước trong kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương trong bối cảnh cải cách tổ chức chính quyền địa phương. Từ khóa: Ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương, Kiểm toán nhà nước, quyết toán ngân sách, chính quyền địa phương hai cấp. State budget management under the two-tier local government model and challenges for the State Audit Office in auditing local budget settlement reports The state budget serves as a vital instrument for socio-economic management and ensures financial resources for the public apparatus. Within the national budget system, local budgets play a direct role in securing resources for regional development. Amidst administrative reforms and the shift toward a two-tier local government model, local budget management mechanisms require adjustment to enhance the efficiency and effectiveness of public financial management. The 2025 State Budget Law introduced provisions to strengthen budget decentralization, increase local financial autonomy and enforce financial discipline. Simultaneously, Clause 2, Article 73 of this Law mandates the State Audit Office of Vietnam (SAV) to audit local budget settlement reports before they are submitted to Provincial People's Councils for approval. This article analyzes local budget management issues under the 2025 Law within the two-tier government framework and clarifies the challenges facing the SAV in auditing budget settlements during administrative restructuring. Keywords: State budget, local budget, State Audit Office, budget settlement, two-tier local government JEL classification: H72, H83, M42 https://doi.org/10.65771/ati-jas.03202601 Ngân sách nhà nước là bộ phận trung tâm của hệ thống tài chính công và là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý kinh tế - xã hội. Thông qua ngân sách nhà nước, Nhà nước huy động và phân bổ các nguồn lực tài chính nhằm bảo đảm phát triển kinh tế, duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và cung cấp các dịch vụ công thiết yếu cho xã hội. Trong hệ thống ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương giữ vai trò đặc biệt quan trọng vì đây là cấp ngân sách trực tiếp gắn với hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn, đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của địa phương và phục vụ trực tiếp người dân. Do đó, việc quản lý ngân sách địa phương có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản trị nhà nước và chất lượng cung cấp dịch vụ công. Thời gian qua, cả nước đang triển khai mạnh mẽ quá trình cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả. Một trong những định hướng quan trọng của quá trình này là nghiên cứu và từng bước triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp nhằm giảm bớt tầng nấc trung gian trong hệ thống chính quyền. Việc chuyển đổi mô hình tổ chức chính quyền địa phương sẽ có tác động trực tiếp đến cơ chế quản lý ngân sách địa phương, đặc biệt là cơ chế phân cấp tài chính giữa các cấp chính quyền. Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định nhằm phù hợp với yêu cầu cải cách quản lý tài chính công và quá trình phân cấp quản lý nhà nước. Đáng chú ý, khoản 2 Điều 73 của Luật quy định Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương trước khi gửi Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, phê chuẩn. Quy định này thể hiện rõ vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc bảo đảm tính trung thực, hợp pháp và minh bạch của báo cáo quyết toán ngân sách địa phương. Trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc triển khai quy định này đặt ra nhiều vấn đề mới đối với công tác quản lý ngân sách địa phương cũng như hoạt động kiểm toán ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Quản lý ngân sách nhà nước ở địa phương theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với mô hình chính quyền địa phương hai cấp Phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền địa phương Phân cấp quản lý ngân sách là nguyên tắc quan trọng trong quản lý tài chính công, nhằm bảo đảm sự chủ động và trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc quản lý và sử dụng ngân sách. Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 tiếp tục khẳng định nguyên tắc phân cấp ngân sách gắn với phân cấp quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội. Theo đó, tại Điều 9 của Luật, các cấp chính quyền địa phương được phân cấp nguồn thu để chủ động thực hiện những nhiệm vụ chi được giao, trong đó Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách cấp tỉnh và ngân sách cấp xã phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và khả năng quản lý của mỗi cấp trên địa bàn việc lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách trong phạm vi được phân cấp. Tuy nhiên, trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc phân cấp ngân sách cần được thiết kế lại cho phù hợp với cơ cấu tổ chức mới của hệ thống chính quyền địa phương. Khi giảm bớt một cấp trung gian trong hệ thống chính quyền, nhiều nhiệm vụ chi ngân sách có thể được chuyển giao trực tiếp cho cấp tỉnh hoặc cấp cơ sở. Điều này đòi hỏi phải xác định rõ trách nhiệm tài chính của từng cấp chính quyền và thiết lập cơ chế điều tiết ngân sách hợp lý. Bảo đảm cân đối ngân sách địa phương Cân đối ngân sách là một trong những yêu cầu quan trọng của quản lý ngân sách nhà nước. Trong thực tế, khả năng tự cân đối ngân sách của nhiều địa phương ở Việt Nam còn hạn chế và phụ thuộc nhiều vào nguồn bổ sung từ ngân sách trung ương. Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 đặt ra yêu cầu cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nâng cao tính bền vững của ngân sách địa phương thông qua việc tăng cường quản lý thu ngân sách, tiết kiệm chi tiêu công và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiến dần đến cân bằng thu, chi ngân sách và tự cân đối được ngân sách của từng địa phương. Trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp cùng với việc sáp nhập các địa phương để tinh gọn bộ máy thì áp lực cân đối ngân sách địa phương có thể gia tăng do một số địa phương sau sáp nhập sẽ phải chia sẻ khả năng cân đối với những địa phương từng nhận sự bổ sung lớn từ ngân sách trung ương, song song đó là sự thay đổi lớn trong phân công nhiệm vụ chi. Vì vậy, ở mỗi địa phương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh cần có cơ chế phân bổ ngân sách hợp lý và tăng cường các công cụ điều tiết ngân sách nhằm bảo đảm sự phát triển cân đối giữa các địa phương. Nâng cao hiệu quả và minh bạch trong quản lý ngân sách Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách thông qua việc quản lý chi tiêu công theo kết quả thực hiện nhiệm vụ. Tại Điều 32 của Luật Ngân sách nhà nước 2025, một trong những nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân các cấp là thực hiện quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Chính phủ. Đồng thời, Luật cũng tăng cường các quy định về công khai, minh bạch ngân sách (thể hiện ở Điều 8 về nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước và Điều 15 về công khai ngân sách nhà nước) nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý ngân sách. Theo đó Điều 32 của Luật Ngân sách nhà nước 2025 đã quy định “Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong lĩnh vực tài chính - ngân sách, giải trình với cơ quan chức năng khi được yêu cầu và chịu trách nhiệm về những sai sót, sai phạm thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật”. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, quyền hạn và trách nhiệm quản lý ngân sách được tập trung nhiều hơn ở cấp tỉnh và cấp cơ sở. Vì vậy, việc tăng cường minh bạch ngân sách và giám sát của cơ quan dân cử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm việc sử dụng ngân sách hiệu quả và đúng mục đích. Quyết toán ngân sách với thời hạn mới Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước 2025 có hiệu lực từ 01/01/2026 thì Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, phê chuẩn báo cáo quyết toán ngân sách cấp mình trước ngày 31/3 năm sau, gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chậm nhất sau 05 ngày làm việc, kể từ ngày báo cáo quyết toán được phê chuẩn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp, lập quyết toán ngân sách địa phương, gửi Bộ Tài chính, Kiểm toán nhà nước trước ngày 01/5 năm sau, trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương trước ngày 01/7 năm sau. Như vậy, theo quy định của Luật, thời hạn phê chuẩn quyết toán ngân sách xã được quy định cụ thể tại Điều 71 (trước đây thời hạn này do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định) và thời hạn phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương của Hội đồng nhân dân tỉnh rút ngắn 6 tháng. Các quy định này đã tạo áp lực lớn cho Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện quyết toán ngân sách cấp mình đúng thời gian quy định, đặc biệt là ở cấp xã, với mô hình mới, nhiều đơn vị có nhân sự mới chưa có kinh nghiệm sẽ gặp những khó khăn nhất định. Những vấn đề đặt ra đối với Kiểm toán nhà nước và các giải pháp trong kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương Theo khoản 2 Điều 73 của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương trước khi gửi Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, phê chuẩn. Quy định này khẳng định vai trò quan trọng của Kiểm toán nhà nước trong việc bảo đảm tính trung thực và hợp pháp của báo cáo quyết toán ngân sách địa phương. Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương hai cấp với những vấn đề được nêu ra như trên, hoạt động kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước đứng trước nhiều vấn đề cần được xem xét một cách thấu đáo và triển khai các biện pháp hữu hiệu để thích nghi. Ngoài quy định tại khoản 2 Điều 73 của Luật Ngân sách nhà nước 2025 như đã trình bày thì tại khoản 1 Điều 33 Luật Kiểm toán nhà nước 2015 quy định “Việc kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước các cấp thực hiện trước khi Quốc hội, Hội đồng nhân dân phê chuẩn quyết toán ngân sách…”, như vậy với quy định “…kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước các cấp…” thì ở địa phương đồng nghĩa Kiểm toán nhà nước sẽ kiểm toán báo cáo quyết toán cả cấp tỉnh và xã để phục vụ Hội đồng nhân dân các cấp phê chuẩn quyết toán của từng cấp ngân sách của địa phương. Việc thích nghi với quy định về kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách các cấp của chính quyền địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước 2025 và Luật Kiểm toán nhà nước 2015 Với quy định về kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương tại Luật Ngân sách nhà nước 2025 và kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước các cấp tại Luật Kiểm toán nhà nước 2015 cho thấy hiện đang có sự khác nhau giữa quy định của 02 luật. Để giải quyết bài toán này, thiết nghĩ Kiểm toán nhà nước chỉ cần thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương nói chung mà không phải kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách cấp tỉnh và cấp xã do theo cách áp dụng văn bản quy phạm pháp luật được hướng dẫn tại khoản 4 Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 thì “Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau”, do vậy quy định của Luật Ngân sách nhà nước 2025 sẽ được áp dụng. (ii) Xét đến yếu tố khả thi của việc kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách xã để cung cấp số liệu cho Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét phê chuẩn quyết toán ngân sách xã thì với thời điểm Hội đồng nhân dân xã phải phê chuẩn báo cáo quyết toán ngân sách cấp mình trước 31/3 hằng năm đồng nghĩa số liệu quyết toán phải được Kiểm toán nhà nước kiểm toán hoàn thành và có số liệu chính thức (đã được Lãnh đạo đoàn kiểm toán, kiểm toán trưởng, tổ kiểm soát chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước khu vực soát xét và chấp thuận) ít nhất trước ngày 25/3 hằng năm. Trong khi đó, sau quá trình sắp xếp, tinh gọn thì số xã tuy giảm nhiều so với trước đây nhưng để đủ mẫu chọn có thể đại diện cho tổng thể tất cả các xã của một địa phương thì việc tổ chức kiểm toán để đảm bảo được tính đúng đắn, trung thực, hợp pháp của số liệu quyết toán ngân sách xã được kiểm toán và đảm bảo về mặt thời gian là không khả thi trong điều kiện nhân sự hiện có và cách tổ chức kiểm toán như thời gian qua của Kiểm toán nhà nước (thực chất khi còn cấp huyện, việc kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương đối với báo cáo quyết toán ngân sách cấp huyện, các đoàn kiểm toán cũng chỉ thực hiện kiểm tra, đối chiếu, rà soát số liệu quyết toán của các huyện được tổng hợp trong quyết toán ngân sách địa phương, không kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách cấp huyện để xác nhận báo cáo quyết toán và cung cấp số liệu để Hội đồng nhân dân cấp huyện xem xét phê chuẩn quyết toán ngân sách của cấp mình). Thay đổi phạm vi và đối tượng kiểm toán ngân sách địa phương Việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp sẽ dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức bộ máy và hệ thống đơn vị dự toán ngân sách địa phương. Khi một cấp chính quyền trung gian là cấp huyện được sắp xếp giảm bớt, nhiều nhiệm vụ quản lý ngân sách trước đây do cấp này thực hiện sẽ được chuyển giao cho cấp tỉnh hoặc cấp cơ sở. Điều này làm thay đổi phạm vi và đối tượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước ở từng cấp ngân sách. Các đoàn kiểm toán cần điều chỉnh phương pháp tiếp cận kiểm toán và xác định lại các trọng yếu kiểm toán ở cấp tỉnh và cấp xã nhằm bảo đảm việc kiểm toán phản ánh đầy đủ tình hình quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước của các cấp ngân sách chính quyền địa phương, phù hợp với cách tổ chức, phân cấp, quản lý mới của mỗi địa phương. Ví dụ như trước đây, khi kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương thì số liệu quyết toán ngân sách xã thường được đánh giá có mức độ rủi ro thấp do qua nhiều năm kiểm toán hoặc kiểm tra, đối chiếu các sai sót được phát hiện trong quản lý, sử dụng ngân sách xã là không nhiều, không ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo quyết toán ngân sách địa phương. Hiện tại, điều cần được các đoàn kiểm toán quan tâm hơn chính là việc tổ chức hệ thống cơ quan quản lý thu nội địa (Thuế cơ sở như các chi cục thuế trước đây) để quản lý thu không chỉ một đơn vị hành chính mà quản lý thu cho nhiều xã; cơ quan Kho bạc Nhà nước khu vực để tổ chức thu, chi và hạch toán kế toán ngân sách không chỉ một đơn vị hành chính mà thực hiện cho các xã, nhất là việc không có sự đồng bộ về phạm vi quản lý của hai cơ quan này (Thuế cơ sở và Kho bạc Nhà nước khu vực không cùng quản lý các xã như nhau mà có sự đan xen) nên việc kiểm tra, rà soát số liệu quyết toán thu, chi ngân sách xã làm cơ sở tổng hợp báo cáo quyết toán ngân sách địa phương cần được các đoàn xem xét, tổ chức một cách hợp lý nhằm tránh chồng chéo trong hoạt động kiểm toán nhưng vẫn đảm bảo số liệu quyết toán được kiểm toán, xác nhận một cách đúng đắn. Áp lực về tiến độ kiểm toán do yêu cầu phê chuẩn quyết toán ngân sách Theo quy định của pháp luật, báo cáo quyết toán ngân sách địa phương phải được trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét và phê chuẩn trong thời hạn nhất định là trước ngày 01/7 năm sau của niên độ ngân sách. Do vậy, việc Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán trước khi trình Hội đồng nhân dân phê chuẩn đặt ra yêu cầu rất cao về tiến độ kiểm toán. Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương hai cấp, hệ thống đơn vị dự toán và cơ chế quản lý ngân sách có những thay đổi đáng kể, làm tăng khối lượng công việc kiểm toán. Điều này đòi hỏi các Kiểm toán nhà nước khu vực phải tổ chức hoạt động kiểm toán một cách khoa học và hiệu quả để bảo đảm tiến độ phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương. Với việc Kiểm toán nhà nước phải ngày càng nâng cao số lượng địa phương được kiểm toán báo cáo quyết toán, tiến dần đến 100% báo cáo quyết toán ngân sách địa phương được kiểm toán đã tạo áp lực lớn cho các Kiểm toán nhà nước khu vực trong cân đối nguồn nhân lực và quỹ thời gian hạn hẹp để làm thế nào đảm bảo được mục tiêu đề ra “Cung cấp số liệu kịp thời, tin cậy cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê chuẩn báo cáo quyết toán ngân sách địa phương”. Có thể nhận thấy rằng, tuy số lượng các địa phương đã được sắp xếp giảm gần một nửa (từ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giảm xuống còn 34) nhưng quy mô ngân sách, phạm vi về không gian là không thay đổi và thời gian thì phải hoàn thành sớm hơn 6 tháng. Thực tiễn như đã nêu đòi hỏi mỗi Kiểm toán nhà nước khu vực cần phải có giải pháp cụ thể và phù hợp như: Phải xây dựng phương án kiểm toán một cách khoa học (như xác định mốc triển khai và kết thúc sao cho có thể xác định và cung cấp số liệu chính thức, tin cậy, đúng thời hạn; triển khai hoạt động kiểm toán sớm hơn, ưu tiên cho kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương, các nội dung kiểm toán khác như các chuyên đề, kiểm toán ngân sách địa phương thực hiện sau…); phải cân đối nguồn nhân lực (về số lượng, năng lực đội ngũ Kiểm toán viên nhà nước) để bố trí nhân sự một cách hợp lý nhất cho các đoàn kiểm toán; chủ động khảo sát, thu thập thông tin để lập kế hoạch kiểm toán của các cuộc kiểm toán, đặc biệt là ứng dụng triệt để công nghệ thông tin để có nguồn dữ liệu cần thiết phục vụ cho xây dựng kế hoạch kiểm toán và khi tiến hành kiểm toán… Rủi ro sai lệch số liệu quyết toán khi thay đổi mô hình tổ chức ngân sách địa phương Việc thay đổi mô hình tổ chức chính quyền địa phương có thể dẫn đến việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính, các cơ quan quản lý ngân sách và hệ thống đơn vị dự toán. Quá trình này có thể làm phát sinh những sai lệch hoặc không thống nhất về số liệu trong quá trình tổng hợp quyết toán ngân sách địa phương, ít nhất là trong những năm đầu sau sáp nhập, sắp xếp việc xác định rủi ro tiềm tàng trong khâu tổ chức thực hiện ngân sách nhà nước và về việc tổng hợp số liệu lập báo cáo quyết toán ngân sách cần được đánh hết sức đúng đắn để định hướng cho các kiểm toán viên khi thực hiện các thủ tục kiểm toán. Trong đó, các đoàn kiểm toán cần chú trọng kiểm tra tính đầy đủ và chính xác của việc tổng hợp số liệu quyết toán ngân sách, đặc biệt là ở giai đoạn chuyển tiếp khi mô hình tổ chức chính quyền địa phương được điều chỉnh. Yêu cầu đổi mới phương pháp kiểm toán ngân sách địa phương Trong bối cảnh cải cách quản lý tài chính công và chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương, Kiểm toán nhà nước cần đổi mới phương pháp kiểm toán theo hướng hiện đại, tăng cường kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro xác định trọng yếu, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm toán, phối hợp chặt chẽ trong thực hiện kiểm toán. Muốn vậy, như đã nêu ở phần trên, bên cạnh việc tránh chồng chéo trong bố trí các tổ, nhóm kiểm toán tại các cơ quan tài chính, tổng hợp nhưng đồng thời phải đảm bảo các số liệu quyết toán khớp đúng cần thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ kiểm toán. Ví dụ đối với quyết toán ngân sách xã: Bên cạnh việc xác định một số chỉ tiêu thu, chi mang tính chất trọng yếu, trong hoạt động kiểm toán Đoàn kiểm toán cần yêu cầu Tổ kiểm toán thu ngân sách (nếu bố trí tổ kiểm toán theo ngành dọc của cơ quan thu từ thuế tỉnh đến thuế cơ sở) với Tổ kiểm toán kế toán ngân sách (nếu bố trí tổ kiểm toán theo ngành dọc của cơ quan Kho bạc Nhà nước từ Kho bạc Nhà nước khu vực đến phòng giao dịch thuộc Kho bạc Nhà nước khu vực) và Tổ kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách xã phải phối hợp nhịp nhàng trong bố trí thời gian kiểm toán, cung cấp thông tin, số liệu lẫn nhau làm cơ sở cho việc xác nhận số liệu quyết toán. Điều chỉnh kế hoạch kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước Việc thay đổi mô hình tổ chức chính quyền địa phương, phân cấp ngân sách cũng như thời hạn quyết toán ngân sách theo quy định mới bắt buộc Kiểm toán nhà nước phải điều chỉnh kế hoạch kiểm toán, phương án tổ chức kiểm toán hằng năm, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, hội thảo chuyên môn, cập nhật kiến thức, kế hoạch phổ biến pháp luật nhằm bảo đảm bao quát đầy đủ các địa phương được kiểm toán báo cáo quyết toán, kiểm tra, rà soát đầy đủ các nội dung trọng yếu của ngân sách địa phương. Theo đó, các kế hoạch khác cần bố trí thời gian tránh trùng lắp và ưu tiên cho kế hoạch kiểm toán và ngay trong kế hoạch kiểm toán ưu tiên hàng đầu về thời gian, về nhân sự tại các Kiểm toán nhà nước khu vực phải dành cho các cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương. Bên cạnh đó, cần tăng cường sự phối hợp giữa Kiểm toán nhà nước với các cơ quan tài chính, kho bạc và cơ quan dân cử ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả giám sát tài chính công. Kết luận Quản lý ngân sách nhà nước ở địa phương theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác quản lý tài chính công. Việc hoàn thiện cơ chế phân cấp ngân sách, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách và tăng cường minh bạch tài chính là những yếu tố quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách địa phương. Đồng thời, quy định về kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương trước khi Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê chuẩn đã khẳng định vai trò quan trọng của Kiểm toán nhà nước trong hệ thống quản lý tài chính công. Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Kiểm toán nhà nước cần tiếp tục đổi mới phương pháp và tổ chức kiểm toán với những giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu mới của quản lý tài chính công, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước ở địa phương. Tài liệu tham khảo: 1. Quốc hội (2015), Luật Ngân sách nhà nước; 2. Quốc hội (2025), Luật Ngân sách nhà nước; 3. Kiểm toán nhà nước (2025), Quy trình kiểm toán của Kiểm toán nhà nước; 4. Kiểm toán nhà nước (2023, 2024, 2025), Báo cáo tổng hợp kết qua kiểm toán năm; 5. Nguyễn Ngọc Hùng (2021), Quản lý tài chính công, Nhà xuất bản Tài chính; 6. Trần Văn Giao (2020), Quản lý ngân sách nhà nước, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật. Ngày nhận bài: 08/02/2026 Ngày chỉnh sửa: 10/02/2026 Ngày duyệt đăng: 12/03/2026 Tác giả: ThS Huỳnh Hữu Thọ, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế Kiểm toán nhà nước (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 3/2026)

Định vị kế toán như một lĩnh vực STEM và tác động đến chất lượng nguồn nhân lực kế toán trong kỷ nguyên chuyển đổi số

Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản nghề nghiệp kế toán từ vai trò ghi chép, tuân thủ sang vai trò phân tích, tư vấn và kiến tạo giá trị dựa trên dữ liệu và công nghệ. Trong bối cảnh đó, Hiệp hội Kế toán Công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã ủng hộ Accounting STEM Pursuit Act, một sáng kiến lập pháp nhằm công nhận kế toán như một lộ trình nghề nghiệp thuộc khối Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán học (STEM) và mở rộng khả năng sử dụng nguồn lực tài trợ giáo dục phổ thông để tăng tiếp cận sớm với giáo dục kế toán. Tại Việt Nam, yêu cầu chuyển đổi số và hiện đại hóa lĩnh vực kế toán - kiểm toán đã được định hướng trong Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030; đồng thời lộ trình áp dụng IFRS/VFRS tạo thêm áp lực nâng cấp năng lực nghề nghiệp. Bài viết này sử dụng cách tiếp cận phân tích nội dung và phân tích tài liệu để (i) làm rõ logic chính sách và lập luận nghề nghiệp đằng sau việc định vị kế toán như STEM, (ii) đối sánh với bối cảnh thể chế Việt Nam và (iii) đề xuất hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kế toán trong nền kinh tế số. Kết quả phân tích cho thấy định vị STEM có thể được hiểu như một cơ chế điều phối kỳ vọng xã hội, phân bổ nguồn lực và thiết kế chương trình đào tạo theo hướng dữ liệu - công nghệ; tuy nhiên, giá trị của nó phụ thuộc vào mức độ chuyển hóa thành thay đổi thực chất về chuẩn đầu ra, học liệu, phương pháp đánh giá năng lực và hợp tác trường - nghề nghiệp - doanh nghiệp. Bài viết gợi ý chương trình nghiên cứu tiếp theo, trong đó các giả thuyết và thiết kế định lượng chỉ được xem là hướng mở rộng sau khi đã làm rõ khung khái niệm và các điều kiện thực thi trong bối cảnh Việt Nam. Từ khóa: Kế toán số; STEM; giáo dục kế toán; chuyển đổi số; chất lượng nguồn nhân lực. Positioning accounting as a STEM field and its impact on accounting human resources in the digital transformation Era Digital transformation is fundamentally shifting the accounting profession from recording and compliance to data-driven analysis, advisory and value creation. In this context, the American Institute of Certified Public Accountants (AICPA) has supported a legislative initiative to recognize accounting as a career path within the Science, Technology, Engineering and Mathematics (STEM) fields and to expand the use of public education funding to increase early access to accounting education. In Vietnam, the need for digital transformation and modernization of the accounting and auditing sector has been outlined into the National Digital Transformation Program to 2025, with a vision to 2030 and the Accounting and Auditing Strategy to 2030. At the same time, the IFRS/VFRS adoption roadmap creates additional pressure to upgrade professional skills. This paper employs document analysis to: (i) clarify the policy logic of STEM positioning, (ii) compare it with the Vietnamese institutional context and (iii) propose policy implications for enhancing accounting human resources. The analysis results reveal that STEM positioning serves as a mechanism to coordinate social expectations and resource allocation and designing data - and technology - oriented training programs; however, its value depends on the extent to which it translates into substantive changes in learning outcomes, learning materials, competency assessment methods and collaboration between schools, professions, and businesses. The article suggests further research, in which quantitative hypotheses and designs should only be considered as extensions after clarifying the conceptual framework and implementation conditions in the Vietnamese context. Keywords: Digital accounting; STEM; accounting education; digital transformation; human resource quality JEL classification: M41, O33, I25, J24 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202601 1. Đặt vấn đề Chuyển đổi số đang tái cấu trúc cách thức tạo lập, lưu chuyển và kiểm soát thông tin tài chính trong cả doanh nghiệp và khu vực công. Khi dữ liệu giao dịch được số hóa, chứng từ điện tử trở thành chuẩn vận hành, các quy trình kế toán - thuế được liên thông trên nền tảng số và các hệ thống quản trị như ERP (Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp - Enterprise Resource Planning), ngân hàng điện tử hay nền tảng phân tích dữ liệu ngày càng phổ biến, giá trị gia tăng của nghề kế toán dịch chuyển mạnh từ thao tác nhập liệu sang thiết kế kiểm soát, bảo đảm chất lượng dữ liệu, phân tích và truyền đạt thông tin phục vụ quyết định quản trị. Xu hướng này khiến năng lực công nghệ, năng lực dữ liệu và tư duy phản biện trở thành yêu cầu nền tảng của người làm kế toán, đồng thời đặt lại câu hỏi về cách thức đào tạo và định vị nghề nghiệp trong xã hội. Ở Việt Nam, định hướng chuyển đổi số đã được xác lập ở tầm quốc gia trong Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Trong lĩnh vực kế toán - kiểm toán, Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030 đặt mục tiêu hiện đại hóa khung khổ pháp lý và tổ chức thực thi theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Cùng với đó, việc triển khai hóa đơn, chứng từ điện tử theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2022 tạo ra một bước ngoặt vận hành, khiến năng lực tác nghiệp trên môi trường số trở thành yêu cầu phổ biến của nhiều doanh nghiệp (Chính phủ, 2020). Song song với chuyển đổi số, Việt Nam thúc đẩy hội nhập chuẩn mực báo cáo tài chính thông qua Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam theo Quyết định 345/QĐ-BTC ngày 16/3/2020, nhấn mạnh lộ trình áp dụng IFRS và xây dựng VFRS, cũng như vai trò của các cơ sở đào tạo và hội nghề nghiệp trong nghiên cứu, đào tạo và hỗ trợ triển khai (Bộ Tài chính, 2020). Kết hợp lại, các dòng áp lực thể chế này làm nổi bật một yêu cầu trung tâm rằng chất lượng nguồn nhân lực kế toán phải được nhìn nhận như khả năng sẵn sàng đáp ứng đồng thời yêu cầu chuẩn mực, tuân thủ và yêu cầu công nghệ, dữ liệu trong môi trường số. Trong khi đó, ở một số quốc gia phát triển, nghề kế toán đang được tái định vị như một nghề nghiệp công nghệ hóa. Tại Hoa Kỳ, AICPA ủng hộ dự luật Accounting STEM Pursuit Act (S.3784) nhằm công nhận kế toán như một lộ trình nghề nghiệp thuộc khối Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán học (STEM) và mở rộng khả năng sử dụng nguồn lực tài trợ giáo dục phổ thông để tăng tiếp cận sớm với giáo dục kế toán (AICPA, 2026; Strickland, 2026). AICPA cũng công bố kết quả khảo sát do The Harris Poll thực hiện cho thấy tỷ lệ ủng hộ cao đối với việc coi các khóa học kế toán là STEM, qua đó gợi ý rằng nhãn STEM có thể tác động đến lựa chọn ngành học và mở rộng nguồn cung nhân lực cho nghề kế toán (AICPA, 2025; Strickland, 2025). Truyền thông chuyên ngành quốc tế ghi nhận đây là một bước đi mang tính thể chế nhằm gắn kế toán với các kỹ năng dữ liệu và công nghệ trong hệ sinh thái giáo dục (The Accountant, 2026). Từ các diễn biến này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam không chỉ là có nên gắn kế toán với STEM hay không, mà quan trọng hơn là gắn như thế nào để tạo ra chuyển biến thực chất về chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, chọn cách tiếp cận phân tích nội dung và phân tích tài liệu, bài viết này tập trung vào việc đọc, phân tích chính sách, cấu trúc ngôn ngữ nghề nghiệp và các điều kiện thực thi; qua đó đề xuất hàm ý cho quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo và tổ chức nghề nghiệp. Các đề xuất về kiểm định định lượng, giả thuyết và mô hình thống kê chỉ được trình bày như hướng nghiên cứu mở rộng ở phần kết luận. 2. Phương pháp nghiên cứu Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu và phân tích nội dung theo hướng định tính, dựa trên các văn bản chính sách và tài liệu nghề nghiệp ở hai cấp độ. Ở cấp độ quốc tế, nguồn tư liệu trọng tâm gồm thông cáo và bài viết của AICPA về Accounting STEM Pursuit Act, các bài phân tích của Journal of Accountancy và tin chuyên ngành của The Accountant về việc AICPA ủng hộ dự luật (AICPA, 2025, 2026; Strickland, 2025, 2026; The Accountant, 2026). Ở cấp độ Việt Nam, tư liệu gồm Chương trình Chuyển đổi số quốc gia (Thủ tướng Chính phủ, 2020), Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2022), Đề án áp dụng IFRS/VFRS (Bộ Tài chính, 2020) và quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử (Chính phủ, 2020). Ngoài ra, bài viết tham chiếu các cập nhật về Chuẩn mực Giáo dục Quốc tế liên quan năng lực công nghệ thông tin - truyền thông và hoài nghi nghề nghiệp như một chuẩn quy chiếu về năng lực (IAESB, 2019). Quy trình phân tích nội dung được triển khai theo hướng mã hóa chủ đề. Trước hết, bài viết xác định các nội dung chính trong lập luận của AICPA về bản chất công nghệ hóa của nghề kế toán và mục tiêu chính sách của dự luật. Tiếp đó, bài viết đối sánh các tuyên bố này với bối cảnh thể chế Việt Nam nhằm nhận diện sự tương thích, các khoảng trống và điều kiện cần để chuyển hóa từ “nhãn nghề nghiệp” sang “năng lực thực hành”. Cuối cùng, bài viết tổng hợp thành các chủ đề hàm ý chính sách theo ba tầng: tầng nhà nước (khung pháp lý, cơ chế khuyến khích), tầng cơ sở đào tạo (chuẩn đầu ra, thiết kế chương trình, đánh giá) và tầng nghề nghiệp - doanh nghiệp (chuẩn năng lực, chứng chỉ, hệ sinh thái thực hành). 3. Kết quả nghiên cứu Phân tích nội dung cho thấy, trong lập luận của AICPA, “STEM” không được sử dụng như một phân loại học thuật thuần túy, mà như một công cụ thể chế để tái định nghĩa nghề nghiệp và mở rộng cơ chế nguồn lực cho giáo dục kế toán. Nói cách khác, “định vị STEM” vừa mang tính mô tả (mô tả nghề kế toán hiện đại dựa trên dữ liệu và công nghệ) vừa mang tính thiết kế chính sách (tạo căn cứ để huy động, phân bổ hoặc hợp thức hóa các nguồn lực phát triển kỹ năng cho người học từ sớm) (AICPA, 2026; Strickland, 2026). 3.1. STEM như ngôn ngữ tái định nghĩa nghề kế toán trong kỷ nguyên dữ liệu Chủ đề thứ nhất là STEM được vận dụng như một ngôn ngữ tái định nghĩa nghề kế toán theo hướng “dữ liệu - công nghệ - tư duy phân tích”. Các bài viết liên quan dự luật nhấn mạnh rằng kế toán ngày nay vận hành trên nền tảng hệ thống số và đòi hỏi năng lực phân tích, xử lý dữ liệu, cùng tư duy phản biện trong ra quyết định (AICPA, 2026; Strickland, 2026). Khi STEM được hiểu theo nghĩa rộng như vậy, nó giúp chuyển trọng tâm truyền thông nghề nghiệp từ hình ảnh ghi chép sang hình ảnh kiến tạo giá trị, qua đó điều chỉnh kỳ vọng xã hội về nghề kế toán. So sánh với Việt Nam cho thấy, nhu cầu tái định nghĩa này có cơ sở thực tiễn mạnh. Việc vận hành hóa đơn, chứng từ điện tử theo Nghị định 123/2020/ NĐ-CP khiến nhiều nghiệp vụ kế toán chuyển sang môi trường số, kéo theo yêu cầu hiểu quy trình hệ thống, kiểm soát dữ liệu đầu vào và đối chiếu dữ liệu liên thông (Chính phủ, 2020). Đồng thời, lộ trình IFRS/VFRS làm tăng yêu cầu về xét đoán và chất lượng thông tin tài chính, vốn không thể tách rời năng lực xử lý dữ liệu và hiểu hệ thống tạo lập dữ liệu (Bộ Tài chính, 2020). Vì vậy, việc định vị kế toán theo hướng dữ liệu - công nghệ có thể coi là phù hợp với biến đổi của môi trường nghề nghiệp trong nước, thay vì chỉ là nhập khẩu một nhãn từ nước ngoài. 3.2. STEM như cơ chế nguồn lực và tiếp cận sớm trong hệ sinh thái giáo dục Chủ đề thứ hai là STEM được sử dụng như một cơ chế tiếp cận nguồn lực và tăng tiếp cận sớm với giáo dục kế toán. Dự luật mà AICPA ủng hộ hướng đến việc cho phép các nguồn tài trợ giáo dục phổ thông được sử dụng cho chương trình kế toán, qua đó tạo điều kiện để người học tiếp xúc sớm hơn với tư duy dữ liệu và các kỹ năng nền tảng liên quan (AICPA, 2026; Strickland, 2026). Điểm này cho thấy trọng tâm của lập luận không chỉ nằm ở xếp loại ngành mà nằm ở thiết kế cơ chế giúp tái cấu trúc chuỗi đào tạo nhân lực từ bậc phổ thông đến đại học. Trong bối cảnh Việt Nam, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu phát triển kỹ năng số rộng khắp và thúc đẩy chuyển đổi số trong nhiều lĩnh vực (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Từ góc nhìn phân tích chính sách, điều này mở ra khả năng lồng ghép nội dung kỹ năng dữ liệu tài chính cơ bản trong các hoạt động hướng nghiệp, giáo dục tài chính, hoặc các mô-đun kỹ năng số ở phổ thông. Dù Việt Nam không có cơ chế tài trợ giáo dục K-12 giống Hoa Kỳ, logic tiếp cận sớm vẫn có thể triển khai bằng các mô hình hợp tác giữa nhà trường, doanh nghiệp và tổ chức nghề nghiệp, ví dụ thiết kế học liệu mở, cuộc thi dữ liệu tài chính, hoặc chương trình trải nghiệm nghề kế toán số cho học sinh. 3.3. STEM như tín hiệu thị trường và cuộc cạnh tranh thu hút nhân lực Chủ đề thứ ba là STEM hoạt động như một tín hiệu thị trường, tác động đến lựa chọn ngành học và khả năng thu hút nhân lực. AICPA sử dụng kết quả khảo sát công chúng để củng cố lập luận rằng việc gắn kế toán với STEM có thể làm tăng khuynh hướng lựa chọn học kế toán, từ đó góp phần mở rộng nguồn cung nhân lực cho ngành (AICPA, 2025; Strickland, 2025). Dù dữ liệu khảo sát thuộc bối cảnh Hoa Kỳ, thông điệp chính sách có thể khái quát: trong môi trường cạnh tranh nhân lực với các ngành công nghệ, nghề kế toán cần một ngôn ngữ mới để mô tả giá trị nghề nghiệp và lộ trình phát triển. Ở Việt Nam, cạnh tranh nhân lực giữa các nhóm ngành kinh tế và nhóm ngành công nghệ đang gia tăng, trong khi nhu cầu kế toán - kiểm toán lại đòi hỏi ngày càng nhiều kỹ năng số. Vì vậy, định vị STEM có thể đóng vai trò như một chiến lược truyền thông nghề nghiệp, song chỉ hiệu quả nếu gắn với các cam kết thực chất về chuẩn đầu ra và cơ hội nghề nghiệp. Nếu STEM chỉ dừng ở khẩu hiệu, rủi ro kỳ vọng sai sẽ xuất hiện: người học kỳ vọng một nghề nghiệp công nghệ cao nhưng lại gặp chương trình đào tạo nặng ghi nhớ chế độ, ít thực hành dữ liệu và hệ thống. Điều này có thể làm giảm niềm tin vào thương hiệu chương trình và làm suy yếu tín hiệu mà STEM dự định tạo ra. 3.4. Điều kiện chuyển hóa Chủ đề thứ tư là điều kiện chuyển hóa. Phân tích đối sánh cho thấy định vị STEM chỉ có ý nghĩa đối với chất lượng nguồn nhân lực nếu được hiện thực hóa bằng bốn điều kiện then chốt: chuẩn năng lực, thiết kế chương trình, phương pháp đánh giá và hệ sinh thái thực hành. Ở cấp chuẩn năng lực, các sửa đổi Chuẩn mực Giáo dục Quốc tế nhấn mạnh năng lực công nghệ thông tin - truyền thông và hoài nghi nghề nghiệp như kết quả học tập quan trọng trong đào tạo kế toán (IAESB, 2019). Điều này gợi ý một chuẩn tham chiếu phù hợp để Việt Nam xây dựng hoặc cập nhật khung năng lực kế toán số, giúp tránh tình trạng STEM hóa bằng cách thêm các môn học rời rạc. Ở cấp thiết kế chương trình, Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030 đã nhấn mạnh chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Nếu chuyển hóa vào giáo dục, điều này đòi hỏi chương trình đào tạo không chỉ dạy phần mềm, mà dạy nguyên lý hệ thống thông tin kế toán, quản trị dữ liệu, thiết kế kiểm soát, phân tích dữ liệu phục vụ quyết định và chuẩn mực đạo đức trong môi trường số. Ở cấp phương pháp đánh giá, thay vì kiểm tra ghi nhớ, đánh giá cần hướng tới năng lực giải quyết vấn đề trên dữ liệu và tình huống số hóa, bao gồm mô phỏng quy trình hóa đơn - chứng từ điện tử và đối chiếu dữ liệu liên thông (Chính phủ, 2020). Ở cấp hệ sinh thái thực hành, vai trò của doanh nghiệp và tổ chức nghề nghiệp trở nên quyết định, bởi dữ liệu, tình huống và công cụ thực tế là nguyên liệu để đào tạo theo hướng STEM. 4. Thảo luận và hàm ý chính sách cho Việt Nam Từ các chủ đề trên, có thể xem định vị kế toán như STEM là một đòn bẩy thể chế nhằm đưa kỹ năng dữ liệu - công nghệ trở thành trung tâm của chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời tái cấu trúc cách xã hội nhìn nhận nghề kế toán. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam, cần phân biệt rõ giữa định vị và cải cách. Định vị là bước tạo khung nhận thức và huy động nguồn lực, còn cải cách là bước thay đổi thực chất chương trình, chuẩn năng lực và cơ chế liên kết. 4.1. Hàm ý cho quản lý nhà nước Trước hết, quản lý nhà nước có thể xem xét thiết kế chương trình hành động về phát triển nhân lực kế toán số như một cấu phần của thực thi Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030, thay vì coi đào tạo là hoạt động tách rời. Từ góc nhìn chính sách công, chương trình hành động này cần xác định rõ chuẩn năng lực kế toán số ở các bậc đào tạo, đồng thời đề xuất cơ chế khuyến khích các trường cập nhật học liệu, hạ tầng dữ liệu và phòng thực hành hệ thống. Việc tham chiếu các chuẩn quốc tế về năng lực công nghệ thông tin - truyền thông và hoài nghi nghề nghiệp là cần thiết để bảo đảm tính tương thích và tính cập nhật. Thứ hai, cần kết nối định vị STEM với hai ưu tiên thể chế đang triển khai, cụ thể là: số hóa chứng từ và hội nhập chuẩn mực. Hóa đơn, chứng từ điện tử theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP đã làm thay đổi cấu trúc quy trình kế toán ở cấp tổ chức, còn lộ trình IFRS/VFRS làm gia tăng yêu cầu xét đoán và chất lượng thông tin tài chính. Vì vậy, chính sách nhân lực kế toán số nên được thiết kế như mắt xích hỗ trợ hai ưu tiên này, ví dụ bằng các tiêu chí kiểm định chất lượng chương trình gắn với năng lực hệ thống và năng lực xét đoán. 4.2. Hàm ý cho cơ sở đào tạo Đối với cơ sở đào tạo, trọng tâm không phải là thêm nhiều học phần công nghệ, mà là tổ chức lại trải nghiệm học tập theo hướng dữ liệu và hệ thống. Điều này có nghĩa các học phần kế toán tài chính, kế toán quản trị, kiểm toán, thuế và kiểm soát nội bộ cần tích hợp dữ liệu và tình huống số hóa vào bài tập, dự án và đánh giá. Việc dạy nguyên lý để vận dụng, thay vì dạy ghi nhớ, trở nên đặc biệt quan trọng khi công cụ và phần mềm thay đổi nhanh. Một cách tiếp cận phù hợp là phát triển các môđun phòng thực hành dữ liệu trong đó người học làm việc với bộ dữ liệu giao dịch lớn (được làm mờ, hoặc ẩn danh), thực hiện làm sạch dữ liệu, đối chiếu dữ liệu, phát hiện bất thường và trình bày ý nghĩa kế toán của kết quả phân tích. Các bài tập mô phỏng quy trình hóa đơn, chứng từ điện tử cũng giúp người học hiểu logic hệ thống và kiểm soát, qua đó tăng năng lực tuân thủ và giảm rủi ro vận hành. Ở cấp chương trình, sự liên kết với lộ trình IFRS/VFRS đòi hỏi tăng cường nội dung xét đoán nghề nghiệp, đồng thời gắn với cách dữ liệu được tạo lập và kiểm soát trong hệ thống số. 4.3. Hàm ý cho tổ chức nghề nghiệp và doanh nghiệp Tổ chức nghề nghiệp và doanh nghiệp giữ vai trò “bảo trợ năng lực” trong giai đoạn chuyển đổi số. Về mặt chuẩn hóa, tổ chức nghề nghiệp có thể phát triển bộ học liệu và chứng chỉ theo hướng kế toán số, phân tích dữ liệu và kiểm soát hệ thống, đồng thời cập nhật yêu cầu đạo đức và hoài nghi nghề nghiệp trong môi trường số theo chuẩn quốc tế. Về mặt truyền thông, kinh nghiệm AICPA cho thấy việc tái định vị nghề nghiệp cần đi kèm lập luận nghề nghiệp và bằng chứng xã hội để tạo đồng thuận. Ở Việt Nam, truyền thông nghề nghiệp theo hướng kế toán là năng lực dữ liệu có thể hỗ trợ thu hút người học, nhưng phải được bảo chứng bằng năng lực thực hành và cơ hội nghề nghiệp cụ thể. Đối với doanh nghiệp, định vị STEM gợi ý rằng kế toán không chỉ là chức năng tuân thủ, mà là một mắt xích của quản trị dữ liệu và quản trị rủi ro. Khi doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống và chuẩn hóa dữ liệu, vai trò của kế toán chuyển mạnh sang thiết kế kiểm soát, phân tích và tư vấn. Do đó, doanh nghiệp nên thiết kế lộ trình phát triển nhân sự kế toán theo hướng kết hợp nghiệp vụ và công nghệ, đồng thời hợp tác với cơ sở đào tạo để cung cấp tình huống, dữ liệu và nền tảng thực hành. Sự hợp tác này cũng giúp giảm chênh lệch giữa đào tạo và yêu cầu công việc thực tế. Kết luận Bài viết đã phân tích nội dung các tài liệu nghề nghiệp và chính sách để làm rõ logic của việc định vị kế toán như một lĩnh vực Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán học (STEM) và so sánh với bối cảnh Việt Nam. Kết quả cho thấy, trong lập luận của quốc tế, định vị STEM vừa là một ngôn ngữ tái định nghĩa nghề kế toán trong kỷ nguyên dữ liệu, vừa là một cơ chế thể chế nhằm mở rộng tiếp cận và nguồn lực cho giáo dục kế toán. Trong bối cảnh Việt Nam, nơi chuyển đổi số quốc gia và chiến lược ngành đã đặt yêu cầu hiện đại hóa kế toán - kiểm toán, lộ trình IFRS/VFRS gia tăng yêu cầu xét đoán và minh bạch, và hóa đơn - chứng từ điện tử tạo chuẩn vận hành số, định vị STEM có thể là một đòn bẩy hữu ích nếu được chuyển hóa thành cải cách thực chất về chuẩn năng lực, chương trình, đánh giá và hệ sinh thái thực hành. Hạn chế của bài viết là mới dừng ở phân tích tài liệu và lập luận, chưa có dữ liệu thực nghiệm để đánh giá mức độ tác động của định vị STEM đến lựa chọn ngành học, chất lượng đầu ra hay năng suất lao động. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng theo hướng kiểm định thực nghiệm sau khi khung khái niệm và điều kiện thực thi đã được làm rõ. Về mặt định lượng, có thể phát triển mô hình kiểm định trong đó định vị STEM (nhận thức của người học và cơ sở đào tạo) tác động đến chất lượng nguồn nhân lực thông qua các cơ chế trung gian như mức độ tích hợp công nghệ trong chương trình, năng lực số và mức độ hấp dẫn nghề nghiệp; đồng thời xem xét vai trò điều tiết của hỗ trợ thể chế và hợp tác doanh nghiệp - nhà trường. Các giả thuyết cơ bản có thể được rút gọn thành: (i) định vị STEM thúc đẩy tích hợp công nghệ trong chương trình; (ii) tích hợp công nghệ nâng năng lực số; (iii) năng lực số nâng chất lượng nguồn nhân lực; và (iv) định vị STEM gia tăng hấp dẫn nghề nghiệp, từ đó cải thiện động cơ học tập và ý định theo nghề. Việc kiểm định các giả thuyết này bằng dữ liệu đa nguồn (người học - nhà tuyển dụng - tổ chức nghề nghiệp) sẽ giúp lượng hóa hiệu quả của các can thiệp chính sách và tối ưu thiết kế chương trình đào tạo trong kỷ nguyên số. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. AICPA. (2025). AICPA survey indicates strong support for accounting to be designated as a STEM program. AICPA & CIMA; 2. AICPA. (2026). AICPA applauds introduction of Accounting STEM Pursuit Act in Senate. AICPA & CIMA; 3. Bộ Tài chính. (2020). Quyết định số 345/QĐ-BTC phê duyệt Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam; 4. Chính phủ. (2020). Nghị định số 123/2020/NĐ-CP quy định về hóa đơn, chứng từ; 5. IAESB. (2019). Revisions to IES 2, 3, 4 and 8. International Federation of Accountants; 6. Nguyễn, L. (2021). Chuyển đổi số và nâng cao chất lượng đào tạo kế toán, kiểm toán; 7. Strickland, B. (2025). STEM designation for accounting has strong support. Journal of Accountancy; 8. Strickland, B. (2026). AICPA supports Accounting STEM Pursuit Act legislation. Journal of Accountancy; 9. The Accountant. (2026). AICPA backs US bill to classify accounting as STEM discipline. The Accountant; 10. Thủ tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; 11. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 633/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030. Ngày nhận bài: 26/02/2026 Ngày biên tập: 03/3/2026 Ngày duyệt đăng: 10/4/2026 Tác giả: Trần Khánh Lâm Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) Nguyễn Phong Nguyên Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Email: trankhanhlam@vacpa.org.vn (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)